Ý NGHĨA VU LAN, AN CƯ, TỰ TỨ,
BỐ TÁT, và THUYẾT GIỚI
A. MỞ ĐỀ
Cha mẹ suốt đời lo cho con cái không kể nhọc nhằn, lam lũ. Ba năm nhủ bộ chín tháng cưu mang, công đức ấy chẳng thể lấy gì màso sánh được, bút mực nào màtả cho hết được, vàkhông lời lẽ nào tả cho xong được. Bởi thế, người xưa thường mượn hình ảnh núi Thái sơn, nước trong nguồn để so sánh với tình cha nghĩa mẹ.
Công cha như núi Thái sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Ai đã từng làm cha mẹ thì mới biết được công ơn cha mẹ cao sâu như thế nào. Suốt đời lặng lẽ, âm thầm hi sinh cho con cái, công đức cha mẹ thậm thâm biết nhường nào!
Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ
Hiểu được như vậy, chúng ta phải thành tâm làm thế nào để báo đáp ân đức cha mẹ dù cha mẹ còn hay mất.
Bất luận một Tôn giáo hay một triết lí nào đều phải lấy chữ Hiếu làm đầu. Một người màbất hiếu với cha mẹ thì trông mong gì người ấy trở thành một người tốt cho xã hội!
Nếu một người màbất hiếu đối với cha mẹ màhiếu kính với mọi người thì âu đó cũng chỉ để cầu danh cầu lợi màthôi. Thiên kinh vạn quyển đều lấy chữ Hiếu làm đầu, vậy người Phật tử há lại đối xử bất hiếu với cha mẹ được hay sao?!
Kinh Thi có câu rất cảm động: "Phụ hề sinh ngã mẫu hề cúc nga, ai ai phụ mẫu sinh ngã cù lao dục báo thâm ân hiệu thiên võng cực". Có nghĩa là: Cha sinh ra ta mẹ nuôi nấng ta, than ôi! Cha mẹ sinh ta nhọc nhằn, muốn báo ân sâu ấy như trời cao không tột.
Tất cả những lời đó nhằm khuyên chúng ta sống phải hiếu đạo với cha mẹ. Đức Phật của chúng ta đã dạy rất nhiều về đạo hiếu trong khắp cả các kinh điển. Chúng ta làPhật tử thì phải tâm tâm niệm niệm báo đền ân đức cha mẹ, không một niệm xao lảng. Có như thế chúng ta mới có thể báo đền công ân muôn một của cha mẹ trong kiếp này. Nhưng Phật tử báo hiếu bằng cách nào? Chúng ta tìm hiểu pháp Vu lan bồn sau đây.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Nghĩa vàtác dụng ngày lễ Vu lan
1. Định Nghĩa: Vu lan bồn làtiếng được phiên âm từ tiếng Phạn làUlambana, Pàli làAvalamba, Tàu dịch làGiải đảo huyền, nghĩa đen làcởi trói, nghĩa bóng làcứu vớt. Đức Phật chế pháp Vu lan bồn nhằm để cứu vớt chúng sinh đang triền miên đau khổ.
2. Nguyên nhân đức Phật chế pháp Vu lan bồn: Thời Phật tại thế có đức Mục-kiền-liên tu hành đắc đạo, được sáu phép thần thông muốn độ cha mẹ , Ngài liền dùng thiên nhãn nhìn khắp các cõi nước, thấy mẹ mình đang bị đày đoạ ở địa ngục, không có thức ăn, da nhăn má cọp, thân hình tiều tuỵ như quỷ đói. Ngài vội đem cơm tới cho mẹ nhưng mẹ Ngài vì nghiệp lực quá sâu dày, không thể ăn được. Đức Mục-kiền-liên liền về Tịnh xá để bạch đức Phật vàsau đó Thế Tôn đã dạy phép Vu lan bồn
3. Thực hiện phép Vu lan bồn như thế nào? Đức Phật dạy Ngài Mục-kiền-liên rằng mẹ ông nghiệp ác quá sâu dày không phải một mình ông có thể cứu thoát được, phải nhờ oai lực mười phương thánh tăng cầu nguyện trong ngày lễ Vu lan thì mẹ ông mới giải thoát khỏi địa ngục. Đức Phật đã chọn ngày 15 tháng 07 Âm lịch để làm ngày kỷ niệm lễ Vu lan. Ngày ấy được gọi làngày Phật hoan hỷ , vì ngày ấy làngày của mười phương chúng Tăng làm lễ Tự tứ sau ba tháng an cư kiết hạ, công đức của chúng Tăng sau ba tháng an cư này đã được tăng trưởng, vì thế màđức Phật dạy Ngài Mục-kiền-liên lấy ngày này để làm lễ Vu lan, báo đền công ân của cha mẹ.
Đức Mục-kiền-liên đã thực hiện ngày lễ Vu lan này bằng cách mua sắm vật dụng, thiết đại lễ kỳ siêu, thỉnh mười phương tăng thọ trai cầu nguyện, bạt trừ nghiệp chướng cho mẹ mình. Nhờ đó, sau một thời gian, mẹ Ngài Mục-kiền-liên đã giải thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ, được sanh lên cõi trời hưởng an vui, phước lạc.
Từ đó ngày lễ báo hiếu Vu lan đã trở thành thông lệ cho tất cả những người con Phật. Hàng năm, cứ đến ngày 15 tháng 07 Âm lịch thì mọi người con Phật đều phải hành lễ báo hiếu. Bất cứ ai cũng đều có thể thiết lễ Vu lan để báo đền công ơn cha mẹ. Có một điều đáng mừng làhiện nay các Phật tử trên đất nước Việt Nam ta, đặc biệt làPhật tử tỉnh Thừa Thiên Huế, tất cả đều phát tâm cúng dường chư tăng trong ba tháng an cư để nguyện cầu cho cha mẹ hiện tại cũng như quá cố được ân triêm phước lợi.
4. Cách báo hiếu chân chánh của đạo Phật:
Báo hiếu cha mẹ thì không chỉ có ngày lễ Vu lan mới báo hiếu màphải tâm niệm báo hiếu trong từng giờ, từng phút. Công đức cha mẹ vô lượng nên chúng ta phải dùng tâm vô lượng màbáo hiếu như thế mới có thể phần nào trọn vẹn ý nghĩa. Có hai cách báo hiếu:
a. Báo hiếu bằng vật chất: Phải hầu hạ, vâng lời cha mẹ, săn sóc nơi ăn, chốn ngủ cho cha mẹ chu đáo. Phật tử khi phụng sự cha mẹ thì không nên chìu theo cha mẹ màlàm điều ác, vì như thế sẽ tao thêm nghiệp dữ cho cha mẹ. Nếu chìu theo cha mẹ màlàm điều ác thì không phải báo hiếu cha mẹ màđã phạm vào tội bất hiếu. Cung phụng vật chất cho cha mẹ dù đầy đủ đến đâu cũng chỉ làm cho cha mẹ thoả mãn trong một kiếp, vì thế, Phật tử không nên làm điều ác để cung phụng cha mẹ.
b. Báo hiếu bằng tinh thần: Người Phật tử phải chú trọng báo hiếu cho cha mẹ bằng tinh thần, phải làm sao cho cha mẹ cảm thấy thư thái, nhẹ nhàng, để dần dần đưa cha mẹ đến với cảm giác an lạc, giải thoát theo tinh thần đạo Phật. Phật tử phải khuyên nhủ cha mẹ quy y Tam Bảo, chánh tín Tam Bảo, phóng sanh, bố thí, bỏ ác, làm lành, giữ giới vàtu nhân giải thoát. Có như thế chúng ta mới làm cho cha mẹ yên vui trong hiện tại, được phước báo sanh vào cảnh giới an vui sau khi lâm chung. Có thể chúng ta không có tiền của để thiết lễ cúng dường, cầu nguyện cho cha mẹ, nhưng cách báo hiếu tinh thần thì không cần đến tiền của màcần nghị lực, nhẫn nhục vàtình thương. Cách báo hiếu tinh thần làcách báo hiếu tối ưu dành cho những người con chí hiếu, có trí tuệ, đạo đức. Vậy chúng ta đừng nghĩ rằng không có tiền của thì không thể báo hiếu cho cha mẹ, đó làcách nghĩ sai lầm vàkhông hợp với tinh thần đạo Phật.
II. Ý nghĩa An cư
An nghĩa làyên ổn, cư làở một chỗ. An cư tức làở yên một chỗ, không sống chỗ này, chỗ kia. Trong khoảng ba tháng, từ ngày 16 tháng 04 Âm lịch đến hết ngày 15 tháng 07 Âm lịch, Tăng chúng phải ở yên một chỗ, nỗ lực toạ thiền tinh tu tịnh giới. Ngoại trừ các việc thuộc Tam Bảo, cha mẹ, Tăng chúng không được tự tiện ra khỏi cương giới. An cư còn gọi làtoạ hạ, toạ lạp hoặc kiết hạ. Sách Nghiệp sớ quyển 04 nói: "Thân tâm yên tỉnh gọi làAn, đến kỳ ở yên một chỗ gọi làCư". An cư làviệc làm thiết thực của Tăng chúng, thể hiện lòng từ bi đối với chúng sanh vàlàm nền tảng cho sự tu tập của hàng Phật tử tại gia. Đó làthời gian thích hợp cho hàng Phật tử tại gia tu tập phước đức vàbố thí cúng dường.
III. Ý nghĩa Tự tứ
Tiếng Phạn gọi làPravàrana, Pàli gọi làPavanara, Tàu phiên âm làBát hoàla, Bát lợi bàthích noa, dịch làMãn túc, Hỷ duyệt, Tuỳ thỉnh, Tuỳ ý sự...Nghĩa của các từ này làsự thỉnh cầu. Ở đây chỉ cho sự thỉnh cầu người khác nói lên những khuyết điểm của mình. Sự chỉ điểm này được căn cứ trên ba trường hợp: do được thấy, nghe vànghi ngờ. Mục đích của việc Tự tứ cũng giống như việc Thuyết giới, được thực hiện vào ngày trăng tròn, nhưng khác với Thuyết giới có định kỳ nửa tháng, Tự tứ có định kỳ mỗi năm một lần sau ba tháng An cư. Ngày Tự tứ ở nước Việt Namta thường được tổ chức vào ngày 14 tháng 07 Âm lịch, ngày cuối cùng của ba tháng An cư kiết hạ. Theo thông lệ, vào ngày Tự tứ tất cả các tỳ kheo đều phải sám hối trước đại tăng những tội đã phạm trong ba sự thấy, nghe, nghi ngờ (Kiến, Văn, Nghi). Sự sám hối này sẽ làm cho chúng Tăng thanh tịnh, tự sanh vui mừng nên gọi làTự tứ. Chúng Tăng tuy ba tháng An cư kiết hạ thân tâm thanh tịnh, giới luật nghiêm trì nhưng có khi không thấy được lỗi lầm mình đã phạm từ bên trong, vì thế, phải nhờ đại Tăng chỉ bảo mới thấy được lỗi lầm bên trong màsám hối để được thanh tịnh hoàn toàn. Tự tứ làphương pháp thực hiện chung cho tất cả Tăng chúng, đức Phật không cho phép biệt chúng Tự tứ. Chúng Tăng phải Tự tứ trong tinh thần hoàhợp gọi là: "Như pháp hoàhợp Tự tứ".
IV. Ý nghĩa Bố-tát
Tiếng Phạn gọi làUpavasatha, Pàli gọi làUposatha, Tàu dịch làBố-sái-tha, Bố-sái-ta-đà...gọi tắt làBố-tát. Tàu dịch làTịnh trú, Thiên túc, Trưởng dưỡng. Theo pháp người xuất gia cứ mỗi nửa tháng một lần vào ngày 14 và30, Tăng chúng tập trung một chỗ tụng giới kinh khiến tỳ kheo trụ trong tịnh giới, tăng trưởng thiện pháp. Hàng Phật tử tại gia cũng tập trung lại, tháp tùng chúng Tăng mànghe lại giới pháp mình đã thọ. Như vậy, căn cứ vào việc làm thì gọi làthuyết giới, căn cứ vào công năng của việc làm đó thì gọi làBố-tát. Bố-tát còn gọi làđoạn tăng trưởng, nghĩa làdứt ác, tăng thiện, còn gọi làNgã đối thuyết, tức làtự mình sám hối tội lỗi trước mọi người.
C. KẾT LUẬN
Lễ Vu lan làphần chính màchúng ta bàn đến trong bài này, các lễ khác như An cư, Tự tứ, Bố-tát, Thuyết giới lànhững phần phụ, tuy vậy, chúng tương quan đến sự tu tập của hàng Phật tử tại gia nên cần phải học.
Lễ Vu lan làngày lễ thiết thực nhất để mọi người con Phật có dịp báo hiếu cha mẹ. Vì miếng cơm, manh áo màchúng ta làm lụng vất vả suốt đời, có khi không còn thời gian chăm lo cho cha mẹ. Vì vậy, chúng ta hãy dành trọn ngày 15 tháng 07 để lo toan công việc báo hiếu, thiết lễ trai tăng, cầu nguyện cho cha mẹ. Nhờ oai lực của chư Tăng, chắc chắn cha mẹ của mình sẽ được ân triêm lợi lạc, khai tâm chuyển ý màtrở về với Phật Pháp. LàPhật tử, chúng ta không thể không thiết lễ Vu lan để báo đền công ơn cha mẹ, ngoài ra, mọi người con Phật hay không phải con Phật cần phải tận tâm phụng dưỡng cha mẹ khi còn sanh tiền, đừng để phải hối hận như Ngài Tử Lộ đã từng thốt lên rằng:
"Mộc dục tịnh nhi phong bất đình
Tử dục báo nhi thân bất tại."
(Cây muốn lặng màgió chẳng ngừng
Con muốn dưỡng nhưng cha mẹ không còn nữa).
Nếu cha mẹ không may qua đời thì chúng ta phải luôn luôn cầu nguyện Tam Bảo tiếp độ cha mẹ sớm sanh về miền Cực Lạc, ngày 15 tháng 07 phải thiết lễ trai tăng cúng dường để nhờ công đức chú nguyện của chư Tăng mànguyện cầu cho cha mẹ.