PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
A. MỞ ĐỀ
Tịnh Độ làcõi nước ở Tây phương của Đức Phật A-di-đà. Cõi nước ấy làcõi nước thanh tịnh, trang nghiêm đầy đủ công đức vô lậu. Pháp môn Tịnh Độ làmột pháp môn tu tập nhằm để sau khi chết được sanh về cõi nước Tịnh Độ của Đức Phật A-di-đà. Tôn chỉ của pháp môn này làphép tu niệm Phật. Pháp môn này có từ thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế, hiện còn các Kinh như Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Kinh Di Đà...lànhững Kinh xiển dương giáo nghĩa Tịnh Độ. Các vị Luận sư nổi tiếng như Ngài Mã Minh, Vô Trước, Thế Thân... đều ca ngợi giáo nghĩa Tịnh Độ. Tuy nhiên, pháp môn này cực thịnh khi nó được truyền sang Trung Hoa vào thời nhàĐường, dưới triều Đường Huyền Tôn - Đường Minh Hoàng. Các Ngài Đạo Xước, Thiện Đạo lànhững bậc làm rạng danh Tịnh Độ tôn ở trung hoa. Tuy nhiên phải kể đến Ngài Huệ Viễn ở thời Đông Tấn, Ngài làbậc tiên phong xiển dương Tịnh Độ Tông vàtu trì nghiêm mật Pháp môn Tịnh Độ. Hiện nay ở Trung Hoa vàViệt Nam, Pháp môn Tịnh Độ làpháp môn thiết yếu vàphổ quát nhất. Đi đâu chúng ta cũng nghe được tiếng niệm Phật. Câu ''Nam mô A-di-đàPhật" đã trở thành câu chào nhau của các Phật tử xuất gia cũng như tại gia. Pháp môn Tịnh Độ làpháp môn được kết hợp bởi nhiều pháp môn khác kể cả Thiền tông, vì thế, tu Tịnh Độ làphải tu nhiều pháp môn kết hợp lại. Những Thiền sư Thiền tông như ngài Nguyên Chiếu, Trí Giả Đại Sư, Viên Chiếu, Thiên Nhu...tuy hoằng dương Thiền tông nhưng đều ca ngợi Pháp môn Tịnh Độ. Với thời đại ngày nay, không có pháp môn nào hữu hiệu bằng Pháp môn Tịnh Độ. Vì thế, chúng ta cần tìm hiểu vàtu tập Pháp môn Tịnh Độ.
B.CHÁNH ĐỀ
I. Tìm hiểu về cõi nước Tịnh Độ
Vũ trụ chúng ta có hằng hàsa số thế giới, trong đó có thế giới của Đức Phật A-di-đàở Tây phương làThế giới an lạc hơn cả, vì thế nó có tên làTịnh Độ hay Cực Lạc trong Kinh Di-đàmiêu tả cảnh giới Tịnh Độ như sau: "Cảnh giới ấy vô cùng đẹp đẽ, thanh tịnh, xán lạn, vui tươi. Phong cảnh toàn cõi như làmột tường hoa, những dây rủ xuống như làgấm lụa, nước trong các hồ có đầy đủ tám thứ công đức...chim chóc ở đây toàn lànhững chim chóc quý giá như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi...ngày đêm sáu thời hót lên những tiếng vi diệu làm cho ai nghe cũng sanh tâm hoan hỷ màniệm Phật. Cảnh giới ấy trang nghiêm, huy hoàng, xinh đẹp như thế làdo sức đại nguyện của Đức Phật A-di-đà, các bậc Bồ tát vàThánh chúng toàn lànhững bậc Thượng thiện gây nên". Trong hoàn cảnh ấy mọi người điều phát tâm tu tập vàrất dễ thành đạo nghiệp.
II. Tu tập để vãng sanh về cõi nước Cực Lạc
Cảnh giới tây phương Cực Lạc làcảnh giới huy hoàng, an lạc. Tuy nhiên chúng ta muốn vào đó không phải làdễ. Những điều kiện để sanh vào cõi nước Cực Lạc được Đức Phật dạy như sau.
1. Đức tin vững chãi: Kinh Hoa nghiêm dạy: "Tín vi đạo nguyên công đức mẫu". Có nghĩa là: đức tin làmẹ của mọi nguồn công đức. Tin lànhân tố thành tựu quả Bồ đề, lòng tin có nhiều khía cạnh.
· Tin Phật: Tin rằng đức Phật làđấng sáng suốt, cứu khổ muôn loài, lời Đức Phật nói làhoàn toàn có thật, cõi nước Tây phương làcó thật. Ngài có năng lực tiếp độ mọi loài chúng sanh.
· Tin Pháp: Tin rằng giáo pháp Đức Phật nói ra làhợp với chân lý, lời Ngài khuyên chúng ta tu hành Pháp môn Tịnh Độ, niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đàđể được vãng sanh về cõi Tịnh Độ làsự thật. Tin rằng tu theo pháp môn Ngài dạy thì nhất định sẽ thành công.
· Tin Tăng: Tin rằng Tăng làngười có khả năng thay mặt Đức Phật để dạy chúng ta tu tập, hướng dẫn chúng ta tu tập Pháp môn Tịnh Độ, có khả năng giải quyết mọi khúc mắc cho chúng ta khi tu tập Pháp môn Tịnh Độ. Tăng làvị thầy sáng suốt cho chúng ta nương tựa để học hỏi, tu tập.
· Tin vào khả năng của mình (tự tin): Đức Phật dạy: "Ta làPhật đã thành, chúng sanh làPhật sẽ thành". Chúng ta tu tập theo hạnh nguyện của Ngài thì nhất định sẽ thành Phật. Chúng ta không nên tự ti mặc cảm với chính mình để rồi thối chí trước hoàn cảnh, dễ bị cám dỗ bởi dục vọng.
2. Phát đại nguyện: Nguyện làtự nguyện, mong muốn một điều gì đó tốt đẹp. Phát đạt nguyện làlập một lời thề cao quý, tốt đẹp vàcó ý nghĩa. Gọi làlập nguyện thì không bị thối chí trước hoàn cảnh, vững chải tự tin, thực hành lời nguyện một cách rốt ráo. Phát nguyện vãng sanh về Cực Lạc làmục đích phát nguyện màchúng ta trình bày trong bài này. Lập chí nguyện làthể hiện sự cương quyết, không cương quyết thì không làm được gì cả. Cổ nhân có dạy: "Thành tại nhất quyết, bại tại do dự". Câu nói ấy không bao giờ sai vậy. Bất cứ việc gì màchúng ta nhất quyết thì nhất định sẽ thành công, nếu còn do dự thì dễ bị thất bại.
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi vàlấp biển
Quyết chí ắt làm nên.
3. Thực hành chí nguyện vãng sanh: Lập nguyện vãng sanh rồi, chúng ta phải thực hành theo đúng chí nguyện. Chúng ta phải chí tâm chú nguyện danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Nhất cử nhất động đều phải niệm Phật, quyết niệm cho đến khi nào "nhất tâm bất loạn" thì mới thôi.
Pháp tu Tịnh Độ làpháp tu phổ cập đến tất cả mọi người, không kể giàu nghèo sang hèn, bất luận thiểu trí hay thông minh đều tu tập được. Chỉ cần có đức tin mạnh mẽ thì ai ai cũng có thể tu tập để vãng sanh về Cực Lạc. Oai lực của chư Phật trải khắp mười phương, chỉ cần chúng ta nhất tâm tưởng nhớ đến Ngài thì Ngài sẽ tiếp độ.
III. Pháp môn Niệm Phật
Có rất nhiều pháp môn tu tập để được sinh về cõi nước Cực Lạc, tuy nhiên, mọi pháp môn không ngoài pháp môn tu niệm Phật. Niệm Phật có bốn cấp độ.
1.Trì danh niệm Phật
Một lòng nhớ nghĩ danh hiệu Phật, trong tâm luôn nghĩ đến sáu chữ "Nam mô A-di-đàì Phật". Khi đi đứng nằm ngồi, ăn uống trước lúc ngủ, sau khi thức dậy đều nhất tâm niệm Phật, mỗi ngày phải dành một ít thời gian để nhất tâm tịnh niệm, nhớ nghĩ danh hiệu Đức Phật A-di-đà.
2. Tham cứu niệm Phật
Niệm Phật bằng cách tham cứu, tức làkhông niệm bằng miệng, không cần có âm thanh nhưng tâm niệm không bao giờ rời niệm. Mỗi niệm đều theo hơi thở, quán tưởng theo sự sinh diệt của mỗi niệm vàgiữ cho tâm không bị tán loạn.
3. Quán tưởng niệm Phật
Quán tưởng hình dung cả Đức Phật A-di-đàđang ở trước mặt, thân cao trượng sáu, ngồi trên hoa sen. Ba hai tướng quý, tám mươi vẻ đẹp toả sáng khắp mười phương, hào quang của Ngài chiếu tận đến tâm can của chúng ta, khiến chúng ta sinh tâm hoan hỷ màniệm Phật.
4.Thật tướng niệm Phật
Nói đủ làThật tướng bình đẳng niệm Phật, có nghĩa làniệm Phật đồng nhất với Chân tâm. Phàm cái gì có hình tướng đều làhư vọng, chỉ có chân tâm làrốt ráo không hư vọng, không sinh không diệt, không đến không đi...nên gọi làthật tướng. Niệm Phật để thấy thật tướng các pháp làThật tướng niệm Phật. Ba cách trước thuộc về Sự tướng niệm Phật, cách cuối cùng này thuộc về Lí tính niệm Phật, cao siêu vàkhó nghĩ. Phương pháp niệm Phật này làtuyệt đối pháp, có công năng đưa hành giả đến cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà. Tuy nhiên, muốn đạt đến Lí tính niệm Phật thì hành giả phải thực hiện nhuần nhuyễn Sự tướng niệm Phật.
IV. Cận tử nghiệp với vấn đề niệm Phật
Cận làgần, tử làchết. Cận tử nghiệp lànghiệp khởi lên khi sắp chết.
Cận tử nghiệp làtác nhân chính dẫn dắt thần thức đi thọ sinh. Bởi thế nó có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề luân hồi, tái sinh cũng như giải thoát. Vì vậy, Phật giáo Tịnh Độ tông lấy tiếng niệm Phật để tiếp dẫn cho người lúc lâm chung, ngõ hầu dẫn đến cận tử nghiệp tốt. Với ý nghĩa đó, người Phật tử không nên khóc than khi người thân sắp qua đời, vì như thế sẽ làm người chết luyến lưu cảnh giới Ta-bànày màthần thức hoang mang, không chọn được hướng đi thích hợp. Tốt hơn hết, khi thấy người sắp lâm chung, Phật tử phải thành tâm chú nguyện, niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà, cầu nguyện cho hương hồn vãng sanh Tịnh Độ. Đó làsự hộ niệm phù hợp với tinh thần Phật giáo, có ý nghĩa vàhiệu nghiệm nhất.
C. KẾT LUẬN
Pháp môn tịnh độ làpháp môn tu tập hữu hiệu vàdễ thực hiện, đầy đủ ý nghĩa tự lợi vàlợi tha, phù hợp với thời đại. Pháp môn này không những được Đức Phật ca ngợi màChư Tổ của chúng ta cũng hết sức tán đồng. Chúng ta làPhật tử, luôn luôn bận rộn với cuộc sống, thế nên đối với chúng ta, không có pháp môn nào phù hợp vàdễ tu tập như Pháp môn Tịnh độ. Vậy, Phật tử cần phải tu tập Pháp môn Tịnh Độ.