phat
   

 

heading lionhead

Giữ gìn năm giới

Sống trong chánh niệm

Theo lời Phật dạy

banner
 
 

QUY Y TAM BẢO

 

A. MỞ ĐỀ

Như nước trăm sông đổ về biển cả; tất cả chỉ có cùng một vị, đó làvị mặn. Cũng vậy, trong tất cả giáo pháp của đức Phật chỉ có một vị, đó làvị giải thoát. Nhưng chúng ta sẽ không được vị giải thoát ấy, nếu chúng ta đến với giáo lý của đức Phật chỉ thuần bằng lời nói suông màkhông có sự thực hành, nghĩa làchỉ có lý màkhông có sự. Ví dụ: Có một người luôn tự cho mình làngười con trọn đời hiếu thảo với cha mẹ, nhưng khi cha mẹ còn sống không khi nào thể hiện bằng hành động cụ thể như lo phụng dưỡng cơm, nước; đến khi cha mẹ mất rồi, cũng không lo hương khói, thờ tự... Như vậy, chắc chắn không thể nào nói đó làngười con hiếu thảo. Vì sao? Vì con cháu dựa vào đâu để noi gương bắt chước; vàngười con cũng không có cách nào để biểu hiện tấm lòng của mình! Do đó, người con muốn thể hiện đạo hiếu thì sự lý phải lo tròn cả hai phương diện: vật chất vàtinh thần, lý thuyết vàhành động. Cũng vậy, muốn trở thành một người Phật tử chơn chánh, không những chúng ta chỉ đến với giáo lý của Ngài bằng sự tôn kính học hỏi, màphải thể hiện tâm tư một cách cụ thể bằng những cử chỉ, một lòng thành kính quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng, phát khởi chánh tín để sám hối các hành nghiệp bất thiện do thân, khẩu, ý tạo ra. Có đầy đủ cả hai phương diện sự vàlý như vậy, mới xứng đáng làngười con phật.
Hơn thế nữa, đạo Phật khuyên con người nên nương tựa Tam bảo, nhưng không có nghĩa làgiao hết đời mình cho Tam bảo để cứu rỗi hay trừng phạt, màchính lànương tựa vào tánh Phật-Pháp-Tăng ở nơi chính mỗi tự thân. Đây làđiểm quan trọng trong đạo Phật đã làm cho con người có lối sống vàtrách nhiệm đối với bản thân mình vàhành động của chính mình. Vì vậy, quy y Tam bảo làkhởi điểm trong tiến trình tu tập để đạt đến giải thoát giác ngộ, vàcũng làđánh dấu cho sự kiện một người trở thành đệ tử Phật đích thực.

B. CHÁNH ĐỀ

I. Định nghĩa
1. Thế nào làQuy y Tam bảo?
Để có một định nghĩa cụ thể, trước hết chúng ta hãy tìm hiểu ý nghĩa chữ "Quy y Tam bảo".
Quy làquay về, trở về (sám hối, tỉnh giác).
Y lànương tựa (cội nguồn, bản thể).
Tam bảo làba ngôi báu - tức Phật bảo, Pháp bảo vàTăng bảo.
Qua những ý nghĩa trên, ta có định nghĩa: Quy y làtrở về nương tựa với cội nguồn của chính mình, đó làba ngôi báu Phật-Pháp-Tăng.
Ngoài ra, quy y còn có nghĩa làkính vâng vàphụng hành. Quy y Tam bảo làtrở về nương tựa Tam bảo: kính vâng lời dạy của Phật, của đệ tử Phật vàthực hành lời Phật dạy.Phật - Pháp - Tăng nghĩa làgì?
Phật-Pháp-Tăng làba ngôi báu không có gì sánh kịp. Vì sao? Vì thông thường theo thế gian, quan niệm vàng bạc, châu báu, con cái lànhững vật quý giá nhất trần gian. Nhưng những thứ đó chỉ giúp cho con người có được hạnh phúc trong hiện tại, màkhông thể giúp họ giải quyết được những đau khổ trong tương lai. Vàngay trong hiện tại, đôi khi lại chính vàng bạc lànguyên nhân làm cho con người đau khổ. Trong khi đó Phật, Pháp, Tăng có đủ năng lực diệt trừ hết thảy cội gốc vô minh vàđem lại hạnh phúc thiết thực cho chúng sinh ngay trong hiện tại lẫn tương lai; đưa chúng sinh thoát khỏi biển khổ luân hồi sinh tử. Vì vậy màPhật - Pháp - Tăng được tôn xưng làba ngôi báu.
Vậy Phật-Pháp-Tăng có nghĩa làgì?
a. Phật: Phật làtừ gọi tắt, nói đầy đủ làPhật-đà, do người Trung Hoa dịch âm từ chữ Buddha (tiếng Phạn), có nghĩa làGiác giả. Tức làbậc đã hoàn toàn giác ngộ ở ba phương diện: tự giác, giác tha vàgiác hạnh viên mãn.
b. Pháp: Tiếng Phạn làDharma, Trung Hoa dịch âm làPháp. Có nghĩa làphép tắc, điều lệ, khuôn khổ, cách thức, vật thể... Mọi hiện tượng trên thế gian đều gọi chung làPháp. Tuy nhiên Pháp ở đây dùng để chỉ cho lời dạy của đức Phật, đã được kết tập thành ba tạng Kinh, Luật vàLuận.
c. Tăng: Nói đủ làTăng-già, do người Trung Hoa dịch âm từ tiếng Phạn Sangha màra; nghĩa làhòa hợp chúng. Một đoàn thể xuất gia tu hành thanh tịnh, gồm bốn người trở lên, cùng giữ giới luật của Phật, sống đúng với sáu pháp hòa kỉnh, như nước hợp với sữa.
2. Lý do quy y Tam Bảo
Như thế làta đã biết ý nghĩa của Quy y Tam bảo. Vậy, tại sao quy y Tam bảo?
Có nhiều lý do để cho chúng ta quy y Tam bảo, đại khái như: vì truyền thống gia đình; vì tình cảm tôn giáo; vì danh dự; vì hoàn cảnh xã hội; vì thấy quả báo nhãn tiền của người khác... Tuy nhiên, những lý do trên vẫn không phải làchính yếu, màphần lớn làđể làm chỗ dựa an ổn nhất cho đời sống tâm linh.
Thế nào làquy y Phật, Pháp, Tăng?
a. Quy y Phật: Ý nghĩa như trên đã nói. Phật làbậc đã hoàn toàn giác ngộ. Ngài đã thấy rõ các pháp đúng thật như nó. Ngài thấy pháp ấy khổ thì đúng thật nó làkhổ. Ngài khuyên chúng ta đừng thực hành pháp ấy, nếu thực hành pháp ấy sẽ bị đau khổ. Lòng từ bi vàtrí tuệ của Phật vô biên vô lượng, làngười dẫn đường sáng suốt cho chúng ta vượt khỏi sông mê sinh tử đến bờ an vui giải thoát. Vì thế nên quy y Phật.
b. Quy y Pháp: Giáo pháp của đức Phật có công năng phát huy chánh pháp, tiêu diệt ác tàpháp. Pháp ấy rất nhân bản vàlợi ích thiết thực cho những ai hành trì đúng đắn. Như chiếc thuyền kiên cố giúp người vượt biển đến nơi an ổn, sóng to bão lớn không thể làm chuyển lay. Lại, pháp như kim chỉ nam, định hướng để người đi xa rõ lối quay về. Cũng vậy, pháp giúp cho người thực hành đúng đắn chứng ngộ Niết-bàn, an lạc. Vì vậy nên quy y Pháp.
c. Quy y Tăng: Tăng lànhững vị thực hành theo hạnh nguyện của đức Phật, thừa sứ mạng của Phật để hoằng pháp lợi sanh. Vì vậy nên quy y Tăng.
Với những lý do đó nên chúng ta phát tâm quy y Tam bảo.
3. Phân Loại Tam bảo
Tam bảo có ba bậc: Đồng thể Tam bảo, Xuất thế gian Tam bảo vàThế gian trụ trì Tam bảo.
Đồng thể Tam bảo
1. Đồng thể Phật bảo, tức lànói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh Phật sáng suốt (giác).
2. Đồng thể Pháp bảo, tức lànói đức Phật cùng chúng sanh đồng một pháp tánh bình đẳng...
3. Đồng thể Tăng bảo, tức lànói chư Phật vàchúng sanh đồng một thể tánh thanh tịnh, hoàhợp...
Xuất thế gian Tam bảo
1. Xuất thế gian Phật bảo: Làchỉ cho ba đời chư Phật đã tự giải thoát ra khỏi thế gian, như đức Phật Thích-ca, đức Phật A-di-đà...
2. Xuất thế gian Pháp bảo:
Làchỉ cho chánh pháp của Phật có công năng đưa chúng sanh ra khỏi biển khổ sinh tử, luân hồi như giáo lý Tứ đế, Thập nhị nhân duyên...
3. Xuất thế gian Tăng bảo:
Làchỉ cho những vị Tăng đã thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian, như chư vị A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát...
Thế gian trụ trì Tam bảo
1. Thế gian trụ trì Phật bảo: Làchỉ cho Xá-lợi của Phật vàhình tượng của chư Phật... Được vẽ, đúc hay khắc với đủ loại hình thức.
2. Thế gian trụ trì Pháp bảo: Làchỉ cho ba tạng giáo điển: kinh, luật, luận được viết hay khắc, in dưới nhiều dạng thức khác nhau...
3. Thế gian trụ trì Tăng bảo: Làchỉ cho các Tỳ-kheo xuất gia tu hành theo giáo pháp của Phật; hành trì giới luật thanh tịnh vàsống theo tinh thần sáu pháp hòa kỉnh.
II. Quy y Tam bảo
Quy y Tam bảo có hai phương diện, đó làquy y theo phương diện sự vàquy y theo phương diện lý. Sự làbên ngoài, lý làbên trong; hay nói khác hơn sự làhình thức, lý lànội dung. Muốn rõ nội dung Quy y, ta phải tìm hiểu hình thức trước.
1. Sự quy y Tam bảo
Tam bảo theo phương diện sự có hai, làThế gian trụ trì Tam bảo vàXuất thế gian Tam bảo. Do vậy, quy y theo sự làtự trở về nương tựa ba ngôi báu Phật - Pháp - Tăng đang có mặt ở thế gian vàba ngôi báu đã ra ngoài thế gian.
a. Sự quy y Phật: Hằng ngày chúng ta phải tưởng nhớ đức Phật, niệm Phật, vàchiêm ngưỡng ngài, chí tâm lễ bái.. ấy làquy y Phật.
b. Sự quy y Pháp: Hằng ngày phải tụng kinh niệm Phật, nghiên cứu giáo lý của Ngài, giữ tâm trí thanh tịnh, không nghĩ xằng bậy để thân tâm được an lạc.
c. Sự quy y Tăng: Tăng làngười, giữ gìn giới luật, làngười đại diện cho Phật để giáo hoá cho chúng ta. Vì vậy, chúng ta phải quy y Tăng.
Trên đây làQuy y Tam bảo theo phương diện sự, vậy quy y theo lý làthế nào?
2. Lý quy y Tam bảo
Tam bảo theo lý làĐồng thể Tam bảo. Vậy, quy y Tam bảo theo lý làtự trở về nương tựa ba ngôi báu Phật, Pháp, Tăng vốn sẵn có trong mỗi chúng ta.
a. Tự quy y Phật: Mỗi một chúng ta đều có Phật tánh, nhưng vì vô minh che lấp màPhật tánh ấy bị lu mờ, như ngọc bị bùn nhơ vùi lấp. Nhiệm vụ của chúng ta làphải gột rửa bùn nhơ ấy để cho ngọc sáng hiển lộ. Cũng vậy, không những trở về nương tựa đức Phật bên ngoài, màchúng ta còn phải trở về nương tựa đức Phật bên trong của mỗi chúng ta.
b. Tự quy y Pháp: Nội tâm của chúng ta có đầy đủ các pháp bình đẳng vô lậu. Vì vậy, chúng ta cần phải từ bỏ các nghiệp hữu lậu để trở về nương tựa vàlàm phát huy pháp tánh vô lậu. Đây chính làpháp tánh chơn như, bất sinh bất diệt có sẵn trong mỗi chúng sinh.
c. Tự quy y tăng: Bản tính của tất cả chúng ta vốn thanh tịnh, hòa hợp, nhưng vì phiền não vô minh che lấp nên trôi lăn trong biển sinh tử. Nay phát nguyện quy y Tăng làchúng ta trở về nương tựa nơi chơn tánh thanh tịnh, hòa hợp có sẵn của chính chúng ta vậy.
Tóm lại, muốn trở thành một Phật tử chơn chánh, chúng ta phải quy y Tam bảo đủ cả hai phương diện; sự - lý viên dung.
III. Lợi ích quy y Tam bảo
Như trong kinh thường diễn tả: một người quy y Phật sẽ không bị đọa vào Địa ngục; quy y Pháp sẽ không bị đọa vào Ngạ quỷ; quy y tăng sẽ không bị đọa vào Súc sinh. Về phương diện đạo đức luân lý, đây làmột bài học vô cùng quan trọng, bởi vì, con người không sợ nhân quả xấu (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) sau khi chết thì người ấy không có điều ác gì màkhông làm. Nếu như vậy thì xã hội sẽ nhiễu nhương, đại loạn. Đứng về phương diện tâm lý, đời sống tâm linh của con người hình như quan trọng không kém thua đời sống vật chất nếu đời sống tâm linh không có nơi nương tựa thì con người ấy trở nên hoang mang, lo sợ, thiếu định tĩnh, từ đó chúng ta có thể suy ra được sự rối loạn của con người vàxã hội như thế nào!
Quy y Tam bảo không những giúp cho con người không bị hụt hẫng tâm linh, màcòn giúp cho chúng ta có lòng tự tin, có ý chí để chống lại sự cám dỗ của tội lỗi vàlàm cho tâm trí được sáng suốt, định tĩnh. Hơn thế nữa, quy y Tam bảo còn có lợi ích xuyên cả ba đời quá khứ, hiện tại vàvị lai: Nghĩa làtiêu trừ được nghiệp ác quá khứ; hiện tại được an lạc vàtương lai được sinh vào thiện thú (cõi lành). Cuối cùng, lợi ích rốt ráo của quy y Tam bảo chính lànền tảng cho sự giải thoát giác ngộ.

C. KẾT LUẬN


Tóm lại, Quy y Tam bảo làtrở về nương tựa Phật, Pháp, Tăng. Phật Pháp Tăng ở đây có hai ý nghĩa: ý nghĩa nội tại vàý nghĩa ngoại tại như sự vàlý đã trình bày ở phần nội dung. Điểm quan trọng làsự - lý ấy phải được thực hành một cách đầy đủ, không nên thủ vàxả một cách thiếu cẩn trọng. Hay nói cách khác, muốn trở thành một Phật tử chơn chính, chúng ta không thể không quy y Tam bảo.
Trong kinh đức Phật thường dạy: “Quy y Phật, không được quy y trời, thần, quỷ, vật; quy y Pháp, không được quy y ngoại đạo, tàgiáo; quy y Tăng, không được quy y thầy tà, bạn ác”. Điều này rất làquan trọng, bởi lẽ, đức Phật làbậc đã giác ngộ, đầy đủ cả phước lẫn trí, làruộng phước vô thượng, làchỗ nương tựa cho các loài chúng sinh quy ngưỡng. Pháp của Phật làpháp vi diệu, như thật, đã hơn 2500 năm nay giáo pháp ấy như một bức thông điệp hùng hồn màkhông ai có thể chối cãi được. Tăng lànhững bậc xuất gia theo Phật, mang chí nguyện cao thượng, độ mình vàngười thoát khỏi triền phược bởi tham, sân, si. Chính vì chất liệu tham, sân, si đã tạo ra các hạng thầy tàbạn ác.
Qua bài học Quy y Tam bảo, chúng ta thấy rằng, Phật, Pháp, Tăng làba ngôi quý báu, làm được kiếp người quy y Tam bảo làmột điều quý báu khác. Do đó, vấn đề còn lại của chúng ta làlàm thế nào để chúng ta phân biệt được đâu làđạo chơn chánh, đâu làđạo tàngụy để làm nơi nương tựa, quy ngưỡng suốt đời. Chúng ta cũng không thể biến đức Phật của chúng ta thành một vị thần ban phước, giáng họa; chúng ta cũng không biến giáo lý của Ngài thành những bài kinh cầu nguyện cho việc mua may, bán đắt; chúng ta cũng không thể nhắm mắt nương theo những hành động của chư Tăng khi chúng ta đã biết đó làphi pháp. Có như vậy, quy y Tam bảo mới đúng ý nghĩa vàthiết thực lợi ích

 

Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo - Liễu Quán - 1425 Clayton Rd,. San Jose, CA 95127
408-272-5765 - thichphapchon@yahoo.com

whl