TỤNG KINH, TRÌ CHÚ, NIỆM PHẬT
A. MỞ ĐỀ
Trong bài học tuần trước Thờ Phật, lạy Phật, cúng Phật, những phần tu tập về lý như bốn phương pháp hành lễ: Phát trí thanh tịnh lễ; Biến nhập pháp giới lễ; Chánh quán tu hành lễ; Thật tướng bình đẳng lễ vàngũ phần hương: Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương vàGiải thoát tri kiến hương lànhững phương pháp tu hành rất khó, đòi hỏi Phật tử phải hạ thủ công phu. Bất cứ việc gì cũng vậy, phải từ dễ đến khó. Do đó, nếu chúng ta không biết cách thực hành những việc như tụng kinh, trì chú, niệm Phật thời khó thực hành những pháp môn kể trên.
Hơn thế nữa, việc Tụng kinh, Trì chú vàNiệm Phật có những diệu dụng rất cần thiết màchỉ có người nào thực hành mới cảm nhận được. Cụ thể nhất làkhi chúng ta tụng kinh, trì chú hay niệm Phật chắc chắn tâm của chúng ta yên tịnh hơn không tụng kinh, trì chú hay niệm Phật, dĩ nhiên tâm tham, sân, si ít sanh khởi hơn. Ngoài ra còn có những linh nghiệm như chư Thiên, Hộ Pháp thường giúp đỡ màchúng ta khó có thể suy nghĩ hay luận bàn.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Định nghĩa
1. Tụng kinh: Làđọc tụng thành tiếng vàcó âm điệu, hoặc đọc thầm những lời Phật dạy trong kinh điển một cách thành kính, phù hợp với căn cơ của chúng sinh.
2. Trì chú: Trì tức nhiếp niệm tại một chỗ; chú tức lànhững lời mật hạnh màchỉ có chư Phật mới có thể hiểu được. Các bài chú có oai thần vàcông đức không thể nghĩ bàn, có khả năng dứt trừ nghiệp chướng vàlàm tăng trưởng trí tuệ cho những ai hành trì, vì thế gọi làtrì chú.
3. Niệm Phật: Niệm lànhớ nghĩ. Niệm Phật lànhớ nghĩ danh hiệu Phật, hình dung đức Phật vàdanh hiệu Phật. Trước làgạn lọc tâm cấu bẩn, bất tịnh của mình vàlàm cho nó ngày càng thanh tịnh; sau luôn luôn cố gắng huân chủng tánh theo Phật, mỗi tâm niệm vàmỗi hành động đều nhớ nghĩ tới giáo pháp vàcông hạnh của Phật.
II. Lý do phải tụng kinh, trì chú vàniệm Phật
Đã làPhật tử ắt phải tin đạo lý nhân quả, vì tin đạo lý nhân quả làmột trong những thiện tâm dẫn chúng sanh hướng tới chánh kiến. Nếu nhân quả làmột quy luật tất yếu thì chúng ta nhận thấy rằng: Đã gây nhân thì phải thọ quả, hay nói cách khác: nếu tạo nhân lành ắt sẽ hưởng quả lành, nếu tạo nhân ác thì phải chịu quả ác. Do vậy, tụng kinh, trì chú, niệm Phật khiến cho con người dẹp bỏ tâm tham, sân, si để làm các việc tốt thì nhất định sẽ có kết quả tốt trong tương lai.
1. Lý do phải tụng kinh
Chúng ta sống trong cõi dục nên luôn luôn bị dục vọng như tham, sân, si... Chi phối làm cho tâm chúng ta không lúc nào được yên tịnh. May thay đức Phật vì muốn giúp chúng ta thoát khỏi cảnh đó nên mới mở bày phương tiện truyền dạy những lời vàng ngọc ngỏ hầu giúp chúng ta thoát khỏi những màn vô minh đen tối ấy. Nhưng những lời kinh cao quý ấy khó nhớ, khó thuộc, chúng ta phải thường xuyên đọc tụng để có thể nhớ vàthực hành theo. Đó làlý do chúng ta phải tụng kinh.
2. Vì sao phải trì chú?
Chú có công năng phi thường, nếu người thành tâm thọ trì thì có hiệu lực không thể nghĩ bàn. Ví như các câu thần chú "Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ Đà-là-ni" hay "Tiêu tai cát tường thần chú" đều có công năng bạt trừ tất cả các tội lỗi, nghiệp chướng, hoạn nạn... Vàgặp được những điều lành... Thần chú Lăng-nghiêm thì phá trừ ma chướng vànghiệp báo nặng...; chú Chuẩn-đề thì trừ tàdiệt quỷ; chú "Thất Phật diệt tội" có thể tiêu trừ tội chướng nhiều kiếp quá khứ... Vì những công năng ấy của thần chú nên ta phải thọ trì.
3. Vì sao phải niệm Phật?
Niệm Phật làphương pháp làm cho tâm chúng ta càng ngày càng trở nên "nhất tâm bất loạn" vàcũng có công năng phá trừ các tạp niệm điên đảo khởi ra nơi tâm của chúng ta. Niệm Phật sẽ giúp chúng ta luôn luôn tỉnh táo, không nghĩ đến các việc ác, xấu xa vàcó phước đức lớn. Niệm Phật tức lànhớ Phật vàniệm danh hiệu Ngài. Nghĩ đến Ngài tức lànghĩ đến những gì thuần lương nhất, thánh thiện nhất, sáng suốt nhất, vì thế mànghiệp chướng phiền não không thể não hại, quấy phá chúng ta được. Nếu không niệm Phật thì tâm của chúng ta rất khó thanh tịnh trong những nghiệp được tạo tác từ thân, miệng, ý nên mãi khổ đau trong đời sống. Vì vậy chúng ta phải luôn luôn niệm Phật.
III. Tụng kinh gì, trì chú gì vàniệm danh hiệu Phật nào?
1. Các kinh thường tụng: Bất luận bộ kinh nào trong đạo Phật đều tụng được cả vàbất cứ kinh nào, nếu chúng ta thành tâm trì tụng thì cũng sẽ có phước đức lớn cả. Tuy nhiên, chúng ta nên tụng những kinh nào phù hợp với căn cơ vàsở nguyện của chúng ta.
Ở Việt Nam, các Phật tử thường tụng những bộ kinh như: kinh A-di-đà, kinh Phổ môn, Hồng danh bửu sám, kinh Dược sư, kinh Địa tạng, kinh Kim cang - Bát-nhã, kinh Pháp hoa, kinh Lăng-nghiêm...
Nếu cầu siêu thì tụng kinh A-di-đà, Địa tạng, Vu-lan...
Nếu cầu an thì tụng Kinh Dược sư, kinh Phổ môn...
Cầu tiêu trừ tai ách, nghiệp chướng thì tụng kinh Lăng-nghiêm, kinh Kim cang..
Nếu sám hối thì lạy Hồng danh chư Phật...
Vẫn biết sự chọn lựa như thế làtốt, song chúng ta nên hiểu giáo lý Phật giáo có sự nhất quán về mặt ý nghĩa. Nếu có một người nào đó chuyên tâm trì niệm bất cứ kinh gì thì cũng đều có lợi ích như nhau.
2. Các chú thường tụng: Hàng xuất gia thì thường tụng các chú như: chú Lăng-nghiêm, Thập Chú, chú Đại bi... Hàng tại gia vì khó học thuộc chú Lăng-nghiêm nên thường chỉ trì tụng Thập Chú, Đại bi chú làđủ. Nếu có ai đó trong hàng tại gia màhọc thuộc chú Lăng-nghiêm vàtrì tụng thì rất tốt.
3. Các danh hiệu thường niệm: Công đức niệm Phật vô lượng vô biên, nếu niệm bất cứ danh hiệu đức Phật nào công đức cũng như nhau cả. Tuy nhiên, tuỳ theo hoàn cảnh màta chọn một hay nhiều danh hiệu Phật nào đó để niệm. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni làvị giáo chủ cõi Ta-bànày nên ta thường xuyên niệm danh hiệu Ngài. Ngoài ra, khi cầu siêu, chúng ta nên niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà, Bồ tát Quán thế âm, Bồ tát Đại thế chí, Bồ tát Địa tạng...; vàkhi cầu an thì niệm danh hiệu đức Phật Dược sư, Bồ-tát Quán thế âm... Làmột cư sĩ Phật tử, chúng ta nên niệm Tam thế Phật, tức lànên niệm Phật Thích-ca-mâu-ni, Phật A-di-đàvàPhật Di-lặc.
IV. Phương pháp áp dụng
Tụng kinh, Trì chú vàNiệm Phật làmột pháp môn tu tập rất phổ biến vàcũng rất thông dụng, vì lẽ pháp môn này vừa dễ tu màcũng khó nghĩ bàn. Đây chính làpháp môn dung thông cả sự lẫn lý nên chúng ta cần phải chú ý:
SỰ: Đứng về mặt sự, khi ta tụng kinh, trì chú vàniệm Phật thì phải chuẩn bị những việc cần thiết như:
Thiết lễ bàn thờ Phật phải thật sạch sẽ trang nghiêm.
Kinh điển phải để trên bàn hoặc trên kệ đã dành riêng; nghĩa làkhông được để bất cứ vật gì khác lên trên đó.
Chọn những giờ nhất định hoặc có thể không nhất định để tụng kinh, trì chú vàniệm Phật hằng ngày.
Thân phải luôn luôn sạch sẽ vàtâm thường thanh tịnh, không để nhiễm ô do tham, sân, si gây ra.
LÝ: Đứng về mặt lý, khi ta tụng kinh, trì chú hoặc niệm Phật làbất cứ khi nào vàbất cứ ở đâu chúng ta cũng có thể tụng kinh, trì chú hay niệm Phật được. Chúng ta cũng không nên cố chấp vào hình tướng tụng kinh nhiều ít màsinh tâm kiêu mạn. Nghĩa làkhi tụng kinh, trì chú hay niệm Phật, chúng ta cần phải tập trung tâm ý vào mỗi lời kinh, mỗi tiếng niệm Phật thật hết sức rõ ràng, không cho tâm ý tán loạn. Duyên vào tụng kinh, trì chú vàniệm Phật để tu tập định tâm cho đến khi nào đạt được nhất tâm bất loạn thì mới có kết quả vàlợi ích.
Ngoài ra, ba pháp môn tụng kinh, trì chú hoặc niệm Phật được diệu dụng phương tiện lập ra 5 phương pháp tu tập để có thể áp dụng đúng theo từng căn cơ, trình độ của mỗi người:
Đọc tụng: người thực hành phải gạn lọc thân tâm đối trước bàn thờ Phật lớn tiếng tụng kinh có chuông mõ.
Mật niệm: niệm thầm, nhỏ tiếng vừa đủ nghe; phương pháp nầy thích hợp cho những ai có thì giờ niệm vào lúc trước khi đi ngủ vàsau khi thức dậy.
Khẩu niệm: Khi gặp sự cố không may xảy ra, chúng ta thường to tiếng niệm danh hiệu Phật hoặc Bồ-tát với tâm khẩn cầu, chí thiết nguyện cầu. Trì chú cũng vậy.
Quán niệm: Định tâm thành ý quán niệm hình tượng đức Phật hoặc Bồ-tát cho đến khi nào mình được nhất tâm bất loạn.
Chuyên niệm: Ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, lúc nào mình cũng một lòng chuyên tâm trì niệm danh hiệu Phật không gián đoạn.
Tóm lại, cả hai phương diện sự vàlý của việc tụng kinh, trì chú hoặc niệm Phật với 5 phương pháp ở trên làluôn luôn cần thiết, không nên nghiên về sự màbỏ lý, cũng không nên nghiên về lý bỏ sự; nghĩa làsự vàlý phải dung thông lẫn nhau thì sự tu tập mới có kết quả được. Nếu không như vậy thì không những việc tụng kinh, trì chú vàniệm Phật không có lợi ích gì màcòn tạo thêm những điều tội lỗi.
V. Lợi ích
1. Lợi ích của sự tụng kinh: Kinh điển chính làchánh pháp ghi chép lại những lời Phật dạy, trì tụng hằng ngày sẽ giúp cho chúng ta thực hành đúng theo lời Phật đã dạy, chắc chắn sẽ lợi ích. Nếu chúng ta hành trì đúng phương pháp, hướng tâm chơn chánh thì không những có lợi ích cho riêng cá nhân màcòn có lợi ích cho gia đình vànhững người xung quanh nữa. Vì chú tâm vào kinh điển nên chúng ta không còn cảm giác lo sợ, sáu căn được thanh tịnh, thân miệng được thu nhiếp màtránh được những hành nghiệp ác... Lời kinh khi được tụng thành tiếng thì nó có công năng làm cho người nghe cảm thấy an tịnh, vàcũng nhờ vậy màtrong gia đình trở nên yên ổn, hoàthuận, những người xung quanh cũng được ảnh hưởng đức tính tốt, xóm giềng cũng được phước báo yên vui. Như vậy, tụng kinh không chỉ mang lại lợi ích cho chính mình màcòn cho gia đình, cho thôn xóm màcòn lợi ích chung cho toàn xã hội... Do đó, làmột Phật tử chơn chánh, chúng ta phải luôn trì tụng kinh điển của Phật.
2. Lợi ích của sự trì chú: Các mật chú tuy không thể giải nghĩa được nhưng người chí tâm thọ trì thì công hiệu khó có thể nghĩ bàn. Một câu thần chú có thể thâu tóm hết nội dung một bộ kinh cho nên có hiệu lực rất phi thường. Thuở đức Phật còn tại thế, ngài A nan nhờ thần chú Lăng-nghiêm màthoát khỏi nạn Ma-đăng-già. Có những câu thần chú làm cho tiêu trừ những nghiệp chướng nhiều đời kiếp quá khứ màcông năng sám hối của ta không thể tiêu trừ đươc. Có trì chú chúng ta sẽ tự tin hơn khi nghiệp báo xảy ra trong đời sống hiện tại này. Ngoài ra, sự trì chú còn có thể ngăn trừ tànghiệp, chướng nạn để giúp đỡ, hộ trì chúng ta tu niệm.
3. Lợi ích của sự niệm Phật: Công đức niệm Phật rất lớn. Một câu niệm "Nam-mô Bổn sư Thích-ca-mâu-ni Phật", có thể thâu nhiếp hết ba tạng kinh điển. Đức Phật Thích-ca-mâu-ni có dạy: "Về lâu sau này khi Như Lai diệt độ, trong kỳ kiếp hoại của thời kỳ mạt pháp, các kinh điển sẽ bị biến mất, chỉ còn một câu niệm 'Nam mô A-di-đàPhật' màcó đủ năng lực đưa chúng sanh về cõi Cực lạc". Tổ Huệ Viễn 13 năm niệm Phật được đức Phật A-di-đàxoa đảnh ba lần. Ngoài ra, một người thường niệm Phật, chắc chắn họ nghĩ nhớ đến Phật, dĩ nhiên họ sẽ không tạo tội ác, đó làmột vài lợi ích thiết thực trong đời hiện tại, vàsau khi chết họ được sanh về cảnh giới của đức Phật A-di-đàan vui theo hạnh Phật. Cho nên chúng ta có thể khẳng định: Công đức niệm Phật làlàm cho tiêu nghiệp quá khứ, không tạo nhân xấu vàquả báo ác nghiệp trong đời sống hiện tại, an lạc, không còn khổ đau trong tương lai.
C. KẾT LUẬN
Tụng kinh, trì chú và niệm Phật làba pháp môn tu dung hợp cả sự vàlý. Dù Phật tử tại gia hay xuất gia đều không thể tách rời những phương pháp tu tập này. Tuỳ theo công hạnh tu tập màmỗi Phật tử sẽ nhận lãnh kết quả không giống nhau. Tuy nhiên chỉ cần hành trì chuyên chú một trong ba phương pháp ấy thời có thể giải thoát khổ đau ngay trong hiện tại. Phương pháp niệm Phật làphương pháp phổ biến vàphù hợp với mọi lứa tuổi. Các Phật tử khi tụng kinh, trì chú hay niệm Phật cần phải dứt bỏ mọi ý tưởng bất chánh, chí tâm hành trì thì mới có lợi ích vàkhi làm bất kỳ việc gì đều phải nghĩ đến Phật để tránh mọi ý nghĩ xấu ác có thể khởi lên trong tâm chúng ta... Tóm lại, chúng ta cần phải lưu ý khi tụng kinh, trì chú hay niệm Phật để cho tâm được an tịnh (nhất tâm bất loạn), điều kiện cần thiết làlàm thế nào để cho 3 nghiệp thân, miệng, ý được trong sạch, không cấu nhiễm. Muốn được kết quả này, chúng ta nên hiểu rằng: tụng kinh, trì chú vàniệm Phật sẽ giúp cho 3 nghiệp được thanh tịnh; và3 nghiệp thanh tịnh sẽ giúp cho việc Tụng kinh, trì chú vàniệm Phật có kết quả tốt. Cả hai việc này tác động hỗ tương với nhau như hơi thở vànhịp đập của trái tim giúp một cơ thể tồn tại. Đây làđiều màmột Phật tử trước khi phát nguyện tụng kinh, trì chú vàniệm Phật, cần phải chú ý.