NGHIỆP VÀ NGHIỆP BÁO

 

A - MỞ ĐỀ
Ở bài nhân quả chúng ta đã có tìm hiểu sơ qua khái niệm về Nghiệp. Bài này chúng ta tìm hiểu sâu hơn về giáo lý Nghiệp vàNghiệp báo theo quan điểm Phật giáo.
Nghiệp chính làđộng cơ vẽ nên tiến trình Nhân quả, Luân hồi của con người. Tìm hiểu về Nghiệp thực chất làtìm hiểu Nghiệp báo hay quả dị thục của Nghiệp. Nói cách khác Nghiệp báo chính làquả dị thục của Nghiệp. Cho nên, tuy chia thành Nghiệp vàNghiệp báo nhưng chúng thực chất chỉ làmột vấn đề màthôi. Nghiệp báo chính làhệ quả tự nhiên của nghiệp. Nghiệp báo ở đây gần với vấn đề tái sanh màcác Học thuyết, Tôn giáo thường nhắc đến. Nghiệp báo vàTái sanh làhai học thuyết liên hệ chặt chẽ với nhau, thuộc lãnh vực tinh thần đạo đức luân lý.
Trong Phật học, Nghiệp thường được chia làm 3 loại : Thân nghiệp, Khẩu nghiệp vàÝ nghiệp. Chính đức Phật đã trình bày tường tận vàgiải thích đầy đủ giáo pháp cao siêu ấy. Giáo lý nghiệp đã tháo gỡ các nghi vấn về những sự bất đồng của nhân loại vàsự chênh lệch tựa hồ như bất công trong thế gian. Chúng ta sẽ lần lượt đi vào vấn đề.

B- CHÁNH ĐỀ
I. Định Nghĩa Nghiệp :
Tiếng Phạn làKarma, Tàu phiên âm làYết-ma, dịch ý làNghiệp, nghĩa làhành động có tác ý (Volitional action) của thân, khẩu, ý. Nghiệp chỉ cho sự tạo tác, tức những hoạt động của thân tâm như hành vi, ý chí, hoặc chỉ cho những sinh hoạt của thân tâm do ý chí sanh ra. Nói chung Nghiệp làchỉ những cái sở tác thiện ác của thân, khẩu, ý. Khi tạo tác thiện ác gọi làNghiệp nhân, khi cảm thọ khổ vui gọi làNghiệp quả. Nếu kết hợp với Nhân quả thì nghiệp lànăng lực được hình thành do những hành vi từ quá khứ kéo dài đến hiện tại vàtương lai. "Ta làkẻ thừa hưởng kết quả của hành vi tạo tác của ta như một di sản truyền lại"(Nikàya). Ngoài ra Nghiệp còn lànhân tố bao hàm tư tưởng Nhân-quả báo ứng vàluân hồi trong ba đời quá khứ, hiện tại vàvị lai.
Đối với vấn đề Nghiệp, Đức Thế Tôn khi còn tại thế đã nhấn mạnh trong kinh A-hàm rằng : "Mỗi chúng sanh đều có cái nghiệp của mình". Hoặc trong một số kinh khác như Tăng Chi II hay Trung bộ III (Kinh Tiểu nghiệp phân biệt), Đức Phật cũng từng dạy rõ: "Ta vừa làchủ nhân của Nghiệp, vừa làkẻ thừa tự của Nghiệp, Nghiệp làthai tạng, Nghiệp làquyến thuộc, Nghiệp làđiểm tựa. Phàm Nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác sẽ thừa tự nghiệp ấy."
Một hành động được gọi lànghiệp, đó làhành động được sự tham gia của ý thức hay nói cụ thể: nghiệp làhành động có tác ý. Một hành động màkhông có tác ý thì không thể tạo thành Nghiệp, đó làhành động của những vị vô thức, hành động của những vị đã chứng ngộ quả vị A-la-hán, hành động này của những vị đã tu chứng quả vị này được gọi là"duy tác". Duy tác có nghĩa làlàm màkhông có sự manh nha ý nghĩa thiện hoặc bất thiện, nhưng trong bản thân hành động vốn có đầy đủ trí tuệ vàcông đức. Còn chúng ta mỗi sự phân biệt còn đắn đo, suy lường của ý thức; vì thế mà"nhất cử nhất động" đều tạo nên nghiệp chướng, không những không hành động thiện phước màcó khi còn hành động độc ác. Mọi hành vi, ngôn ngữ của chúng ta đều có sự sắp xếp của ý thức, vì thế màchiêu cảm thành Nghiệp; cho nên Phật dạy:
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý chủ ý tạo tác.
Nếu với ý nhiễm ô,
Nói năng hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như bánh xe theo chân con bò.
hay
Ý dẫn đầu các pháp,
Ý chủ ý tạo tác.
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói năng hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình.
Trên đây đã nêu lên sự tác động của ý đến quá trình hình thành nghiệp vàquả của Nghiệp (Nghiệp báo). Chính sự thọ báo này màchúng ta suy ra được một phần sự tác động của ý thức vào hành động làthiện hay ác. Luận Thành Thật nói :"Nghiệp thiện thì được quả báo tốt đẹp, Nghiệp bất thiện thì cảm quả báo không tốt đẹp". Tuy nhiên, từ Nghiệp nhân đi đến Nghiệp quả vẫn còn có nhiều yếu tố tác động, nhất làyếu tố tâm lý vàtuệ giác ( như đã trình bày ở bài Nhân-quả), vì thế chúng ta không thể suy lường hết được tiến trình hình thành từ Nghiệp nhân đến Nghiệp quả (Nghiệp báo) một cách rốt ráo. Chúng ta chỉ biết rằng; người con Phật luôn luôn làm điều thiện, không làm những điều ác, nghiêm trì những giới điều màmình đã thọ, giữ tâm ý cho thanh tịnh thì nhất định sẽ được những kết quả tốt vàđó cũng chính làý nghĩa chuyển Nghiệp màmỗi Phật tử cần phải thực hành như châm ngôn: "TU LÀ CHUYỂN NGHIỆP".

II. Phân loại Nghiệp vàNghiệp báo
1. Phân loại Nghiệp
Giáo lý nguyên thủy cũng như Đại thừa đều chia Nghiệp ra làm rất nhiều loại, mỗi loại phù hợp với một chức năng vàphần lớn dựa theo ý nghĩa màgọi tên chúng. Tuy nhiên, Nghiệp làmột vấn đề phức tạp nên ngôn ngữ vàsự phân loại cũng rất phức tạp, chúng ta chỉ tìm hiểu một vài sự phân loại tiêu biểu của Nghiệp để hiểu sâu hơn về ý nghĩa của chúng.

Có hai loại Nghiệp cơ bản làThiện Nghiệp vàÁc Nghiệp, thuật ngữ thường gọi làHắc Nghiệp vàBạch Nghiệp.
+ Hắc Nghiệp làNghiệp đen, thường chỉ cho những Nghiệp xấu như giới cấm thủ Nghiệp (giữ giới một cách sai lầm), thập ác Nghiệp, Nghiệp không tin Nhân quả... thọ Nghiệp này thường sanh váo ác xứ, khổ xứ nên cũng có thể dùng để chỉ cho địa ngục Nghiệp, Ngạ quỷ Nghiệp, Súc sanh Nghiệp.

+ Bạch Nghiệp lànhững thiện Nghiệp như Thập Thiện Nghiệp, Ngũ giới Nghiệp, Bồ tát Nghiệp... thọ Nghiệp này thường được sanh vào thiện xứ, lạc xứ, nên có thể dùng để chỉ cho Nhân Nghiệp, Thiện Nghiệp, Thanh văn... Còn hành động duy tác của các Thánh giả A-la-hán được gọi làphi hắc phi bạch Nghiệp (Nghiệp không trắng cũng không đen).

Các Nghiệp cảm thọ riêng từng cá nhân gọi làBiệt Nghiệp, Nghiệp chung cho cả tập thể gọi làCộng Nghiệp. Nghiệp mànhất định sẽ đưa đến kết quả gọi làĐịnh Nghiệp, nghiệp có thể đưa đến kết quả, cũng có thể không đưa đến kết quả gọi làBất Định Nghiệp... Ngoài ra, Nghiệp còn được phân loại theo công tác (Sanh Nghiệp, Trì Nghiệp, Chướng Nghiệp, Đoạn Nghiệp) hoặc phân loại theo sức mạnh (Cực trọng Nghiệp, Cận tử Nghiệp, Tập quán Nghiệp, Tích lũy Nghiệp)... Các phân loại này tương đối khó sau này chúng ta sẽ tìm hiểu.

2. Phân loại Nghiệp báo:
Trong Nghiệp báo, Nghiệp quyết định con người giàu, nghèo, sống lâu, chết yểu, vận mệnh gọi là“Mãn Nghiệp”. Nghiệp quyết định tính cách chung vàđiều kiện sinh hoạt của con người gọi là“Dẫn Nghiệp”. Tướng chung của các quả báo như thọ sanh làm người hay súc vật gọi là“Tổng báo”. Dù thọ sanh làm người nhưng có người giàu kẻ nghèo, người trí, người ngu, làm súc vật thì có loài sướng, loài khổ như thế gọi là“Biệt báo”. Các quả báo về thân hình đẹp xấu, thấp cao, béo gầy... gọi là“Chánh báo”, Quả báo về điều kiện sinh hoạt, quốc gia, đất nước, hoàn cảnh xã hội...gọi là"Y báo”. Một nhóm người cùng thọ một quả báo thì gọi là“Cộng báo”... Cách gọi tên Nghiệp báo như trên làtùy theo sự cảm thọ quả báo màcó.

III. Tinh thần nhân bản trong Giáo lý Nghiệp vàNghiệp báo:
Giáo lý nghiệp vàNghiệp báo đã khẳng định số mệnh của mỗi chúng sanh làdo chính chúng sanh ấy quyết định, đúng như đức Phật dạy : ”Hãy tự mình thắp đuốc lên màđi”.
Đã đến lúc con người không thể chấp nhận cuộc sống hiện tại làhoàn toàn do hành động quá khứ, không thể biến cải. Đức Phật dạy, tất cả Nghiệp nhân, Nghiệp quả đều Duyên sinh, vì Duyên sinh nên không có Nghiệp cố định, bất cứ loại Nghiệp gì cũng có thể biến cải.
Phái Túc Mệnh luận chủ trương “Túc Nghiệp”, hay “Định nghiệp”. Chủ trương này không phù hợp với tính chất Duyên sinh vàbất định của các pháp. Nếu cho rằng có định nghiệp thì sẽ rơi vào quan điểm “túc tác” của Ngoại đạo, Đức Phật xem tai hại này ngang với chủ trương “Thượng Đế tạo vật” của ngoại giáo. Nếu không thể chuyển Nghiệp thì làm sao có sự kiện giải thoát ngay trong hiện tại !
Nghiệp chính do con người tạo tác thì cũng chính do con người đoạn diệt. Nó làmột điều gì đó rất chủ quan của tâm lý, xem như không liên hệ gì đến quyền năng bên ngoài như Thần linh, Thượng đế, Duy tâm hay Duy vật gì cả. Khả năng giác tỉnh của con người có thể giải thoát tất cả các lậu hoặc ngay trong đời sống hiện tại. Mỗi con người tự nhận lãnh trách nhiệm của mình trong suốt quá trình tu tập giải thoát. Với ý nghĩa đó, Giáo lý Nghiệp của Phật giáo đã hoàn toàn khai mở tinh thần nhân bản, đặt quyền cá nhân lên địa vị tối cao, tháo gỡ tất cả những tư tưởng về định mệnh, số mệnh, xoá bỏ quan niệm giáng họa, ban phúc của Thần linh, đặt quyền con người vào đúng vị trí của chính nó.

C.KẾT LUẬN
Đức Phật dạy :"Ngang với sức mạnh tâm trí, vật chất, sức mạnh của Nghiệp cũng làmột sức mạnh bất tư nghì”. Ngài dạy tiếp :”Hết thảy chúng sanh đều do nghiệp lực của mình làm sở hữu, làm nhân duyên, làm thân thuộc, làm quy tắc đời sống...”.
Tất cả các điều Ngài dạy, đều đặt con người vào tư thế tự chủ vànêu cao giá trị đời sống qua ngôn ngữ vàhành động. Chúng ta khi đã biết rằng đau khổ hay an vui, đọa lạc hay giải thoát làdo ở tự thân chứ không phải cầu bên ngoài, thì đã thấy được sức mạnh của Nghiệp. Phật tử khi đã nhận thấy sức mạnh của Nghiệp thì cũng biết, đối với đời sống chỉ có ngôn ngữ, hành động hợp lý mới có giá trị; giá trị trong sự chuyển bỏ đau khổ, kiến tạo hạnh phúc an lạc. Thế nên, đã làPhật tử thì phải sáng suốt nhận thấy sức mạnh của hành động vàsự chi phối của ý thức vào hành động, có như thế mới hành động như Chánh pháp, nói năng như Chánh pháp. Muốn tâm ý luôn luôn hướng dẫn hành động một cách tốt đẹp thì mỗi người Phật tử phải thường xuyên áp dụng ba đức tính Từ bi, Trí tuệ vàHùng lực. Đức tính Từ bi để tiêu diệt sự tàn ác, gian hùng, phản bội lợi ích chung vàbắt buộc chính mình luôn luôn hướng tới hạnh phúc chung của mọi người. Đức tính Trí tuệ để tiêu diệt tàkiến, mê lầm vàrèn luyện tâm trí hằng được sáng suốt, hành động vànói năng hợp lý. Đức tính Hùng lực để tiêu diệt sự rụt rè, hèn nhát, ngược lại thúc đẩy chúng ta hành động quả cảm đúng đắn để giúp đời.
Kết cục bài học đem lại cho chúng ta một câu trả lời về chính mình trong đời sống hiện tại:
“Hãy tự mình thắp đuốc lên màđi”

 

Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Liễu Quán - 1425 Clayton Rd., San Jose, CA 95127
408-272-5765 - thichphapchon@yahoo.com