BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA
A. MỞ ĐỀ
I. Người đời ai cũng có bổn phận
Người ta sanh ra ai cũng có bổn phận, nói cách khác làđã có cái danh thì tất phải có cái phận. Con kiến, con ong thì có cái phận của con kiến con ong; mặt trăng, mặt trời thì có cái phận của mặt trăng, mặt trời. Dù nhỏ, dù lớn, mọi người đều có cái phận riêng của mình. Những điều phải làm đối với cái phận ấy gọi làbổn phận.
Con người ngoài bổn phận làm người ra còn có bổn phận khác nữa. Làm cha mẹ thời có thêm bổn phận làm cha mẹ, làm quan lại thì có thêm bổn phận làm quan lại. Như thế nếu làm Phật tử thì có thêm bổn phận làm Phật tử. Mỗi người đều phải hoàn thành tốt bổn phận của mình. Làm cha mẹ thì phải lo cho con cái đến nới đến chốn. Làm quan thì phải thanh liêm, chánh trực, lấy lợi ích bá tánh làm lợi ích của mình. Vì lý do đó màđức Khổng Tử dạy thuyết chính danh để chỉnh đốn xã hội. Vậy bổn phận của người Phật tử tại gia thì thế nào?
II. Bổn phận của người Phật tử tại gia
Người Phật tử tại gia có bổn phận hơn ai hết. Ngoài bổn phận làm người tại gia ra, Phật tử còn có thêm bổn phận làm Phật tử nữa. Một số người còn có thêm những bổn phận khác như làm bác sĩ, kỷ sư, kiến trúc sư...vì thế nói làm Phật tử tại gia khó làvì nghĩa này. Ở đây chúng ta nói đến bổn phận làm Phật tử màthôi.
B. CHÁNH ĐỀ
Phật tử có nghĩa làngười con Phật. Khi một người thọ tam quy, ngũ giới thì chính thức làm người con Phật. LàPhật tử, chúng ta sẽ làm những gì?
Đức Phật làbậc toàn trí toàn năng, đã hoàn toàn giác ngộ, đã giải thoát tất cả mọi chấp thủ ngã tướng, đã liễu tri quy luật nhân quả. Ngài có công đức vàtrí tuệ vô lượng, từ bi, hỷ xã vô lượng.
Làm con của Phật thì phải tu học theo đức Phật, tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, đi theo con đường màNgài đã đi, làm theo những việc màNgài đã làm. Tuy nhiên, người Phật tử tại gia nhất định phải còn nhiều ràng buộc, vì phải sống với thế tục nên còn một số bổn phận, trách nhiệm của người tại gia. Nhưng Phật tử tại gia cần hiểu rằng: hoàn thành tốt trách nhiệm của người tại gia thì cũng đồng nghĩa hoàn thành tốt bổn phận của người Phật tử. Theo lời đức Phật dạy, người tại gia cần phải hoàn thành tốt những bổn phận sau đây.
I. Bổn phận đối với tự thân
Người Phật tử tại gia cần hoàn thành tốt nhân cách của mình để xứng đáng làmột công dân trong xã hội, ngoài ra còn phải tu thân dưỡng tánh, trau dồi đức hạnh hầu để được thân tâm thanh tịnh, an lạc, vui hưởng hạnh phúc trong hiện tại vàtiến lên con đường giải thoát trong tương lai.
Bổn phận quan trọng nhất của người Phật tử làlàm sao thoát khỏi biển sanh tử, luân hồi. Từ vô thỉ kiếp về trước, chúng ta đã sống trong mộng huyễn giả danh vì thế màcứ mê mờ tạo nghiệp, đến nay vẫn quanh quẩn trong tứ sanh lục đạo. May thay ngày nay chúng ta có duyên lành, được gặp Phật pháp, thấy được quyển kinh, được nghe diệu lý như bóng tối gặp sáng, người mù sáng mắt, trong bể khổ gặp thuyền tế độ. Nếu chúng ta không gắng sức tu tập màcứ chạy theo các thói hư tật xấu thì chẳng phải phụ cái duyên lành từ kiếp trước hay sao, chẳng phải phụ tấm lòng của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni hay sao!
LàPhật tử tại gia thì phải giữ ngũ giới, tu Thập thiện, chuyên tâm niệm Phật, sám trừ các phiền não, phát tâm từ bi tế độ kẻ mê lầm để cùng nhau tiến lên con đường giải thoát.
II. Bổn phận đối với gia đình vàthân quyến
Phật tử tại gia còn có gia đình, bàcon thân quyến nên cần phải hoàn thành bổn phận đối với họ. Mỗi tầng lớp người trong gia đình, từ ông bà, cha mẹ đến người công kẻ mướn đều phải có trách nhiệm của chính mình. Trong kinh Thiện Sanh (A hàm) vàKinh Sigàlovàda (Nikàya) đức Phật dạy về bổn phận người Phật tử tại gia như sau:
1. Bổn phận đối với cha mẹ: có 5 điều
· Làm con phải hiếu kính cha mẹ, tùy mùa nóng lạnh màlo chuyện ăn mặc cho cha mẹ phù hợp với thời tiết để cha mẹ nghỉ ngơi.
· Lo sắp xếp công việc trong ngày, giúp đỡ những vật cần thiết, nhất làkhi tối lửa tắt đèn,
· Thay cha mẹ gánh vác công việc nặng nhọc trong gia đình để cha mẹ được thảnh thơi màvui hưởng tuổi già.
· Luôn tâm niệm báo đáp ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ để kịp báo đáp phần nào trọng ân khi cha mẹ còn sanh tiền, nhất làphải chăm sóc đời sống tinh thần cho cha mẹ.
· Săn sóc hết lòng khi cha mẹ bị đau ốm, phải ân cần hầu hạ thuốc thang.
2. Bổn phận đối với con cái
· Làm cha mẹ phải dạy dỗ con cái không được làm điều ác, phải làm điều lành để trở nên người có đức hạnh.
· Khuyên răn con cái sống gần gũi thiện hữu tri thức để có thể học hỏi nhiều điều tốt từ họ.
· Nhắc nhở con cái cần mẫn học hành để thành người hữu ích.
· Phải lo việc gia đình cho con cái.
· Cho con cái tham gia bàn tính công việc gia đình để góp phần xây dựng hạnh phúc gia đình chung.
3. Bổn phận của vợ đối với chồng: đủ 5 điều
· Kính yêu hòa thuận với chồng, cư xử lịch sự nhã nhặn.
· Khi chồng đi vắng vợ phải lo việc nhàvàphải hết mực trung thành với chồng
· Phải giữ tiết hạnh không được ngoại tình.
· Có của ngon vật lạ không nên dùng riêng cho mình, khi chồng nóng giận thì không nên bừng mặt cải vã, làm mất hòa thuận, màphải đợi khi chồng bình tỉnh lại rồi mới dùng lời lẽ để khuyên bảo. Ngược lại khi chồng có lời khuyên giải đúng thì phải vâng theo.
· Phải xem tài sản trong gia đình làcủa chung, người vợ phải quán xuyến mọi việc nhàcửa.
4. Bổn phận của chồng đối với vợ: có 5 điều
· Khi vợ đi về phải hỏi thăm lịch sự.
· Nên dễ giải trong vấn đề ăn uống để khỏi phiền lòng vợ phải nấu nướng cực nhọc.
· Phải mua sắm áo quần, nữ trang đầy đủ cho vợ nếu gia đình mình có khả năng, đừng hẹp hòi màkhông làm đẹp lòng vợ. Điều này giúp ích rất nhiều cho hạnh phúc gia đình.
· Không được sanh tâm tàvạy màphải trung thành với vợ, không được ngoại tình.
· Phải tin tưởng vợ vàgiao phó một số công việc nhà.
5. Bổn phận đối với bàcon thân thích: có 5 điều
· Khi bàcon của mình làm điều chẳng lành thì phải hết lòng khuyên can nhắc nhở.
· Phải biết giúp đỡ bàcon khi họ gặp tai ương bệnh tật. Nếu không có thể giúp tiền bạc thì có thể giúp cháo cơm, thang dược.
· Bàcon có những việc kín đáo không muốn cho ai biết mànếu mình biết thì không nên nói cho ai biết.
· Bàcon thân thích thì nên hay lui tới thăm viếng lẫn nhau, đừng vì bất đồng ý kiến màcố chấp giận hờn nhau.
· Trong thân bằng quyên thuộc thì người giàu có cố nhiên phải giúp người nghèo, kẻ ăn dư thì phải giúp đỡ cho người thiếu hụt.
III. Bổn phận đối với người không phải bàcon thân quyến: có 5 điều
Gọi làngười không phải thân quyến không có nghĩa lànhững người xa lạ. ở đây muốn nói họ không phải làbàcon ruột thịt, không chung sống một mái nhànên tạm gọi làngười ngoài thân quyến.
1. Bổn phận của trò đối với Thầy: có 5 điều
· Phải kính mến Thầy như cha mẹ.
· Phải vâng lời Thầy chỉ bảo.
· Phải giúp đỡ Thầy trong cơn hoạn nạn
· Phải siêng năng học tập để làm cho Thầy vui lòng.
· Khi thôi học cũng phải năng lui tới thăm viếng Thầy để tỏ lòng cảm mến công ơn dạy bảo của Thầy.
2. Bổn phận của Thầy đối với trò: có 5 điều
· Phải cần mẫn dạy dỗ trò.
· Dạy học trò phải dạy cả kiến thức lẫn đức hạnh, làm sao để học trò mình ngày mỗi tiến bộ.
· Làm Thầy phải dạy cho học trò những điều ấn tượng nhất, gây ấn tượng mạnh cho tâm trí học trò.
· Những điều gì khó hiểu (lý thuyết mắc mỏ) thì Thầy phải giảng giải làm sao cho học trò không bị hiểu lầm.
· Phải có lòng rộng rãi mong muốn học trò giỏi hơn mình.
3. Bổn phận của chủ nhàđối với người giúp việc: có 5 điều
· Chủ nhàphải quan tâm đến sức khỏe vànhững phương tiện sống của người giúp việc để họ vui vẻ màlàm lụng.
· Khi người giúp việc bệnh hoạn thì phải quan tâm, thuốc thang đầy đủ để họ chóng lành bệnh màtiếp tục công việc.
· Nếu người giúp việc phạm lỗi gì thì phải xem xét cẩn thận kẻo trách oan, nếu họ có phạm lỗi thật thì phải dùng lời thanh nhã màtrách cứ hẳn hoi để họ thấy lỗi màchừa.
· Không nên tước đoạt tài sản màhọ tiết kiệm dành dụm.
· Khi thưởng công thì phải công bằng, tùy theo sức lao động của từng người màthưởng để khuyến khích họ làm việc cho tốt.
4. Bổn phận của người giúp việc đối với chủ nhà: có 5 điều
· Phải thức dậy trước chủ nhàmỗi buổi sáng không đợi kêu.
· Phải tuân theo thời khóa phân chia công việc của mình màlàm, không đợi chủ nhàsai bảo.
· Làm việc phải cẩn thận, phải giữ gìn tài sản của chủ, không được làm thiếu hụt hư hao.
· Phải kính trọng vàthương mến chủ nhà. Đi thưa về trình tỏ ra thân mật, lúc nào cũng ân cần đón tiếp.
· Không nên chỉ trích, nói xấu chủ nhàvới người ngoài.
5. Bổn phận của cư sĩ Phật tử đối với chư Tăng vàthiện hữu tri thức: có 5 điều
· Phải hết lòng thành thật với chư Tăng vàthiện hữu tri thức.
· Phải cung kính vàvâng lời chỉ dạy của những bậc minh sư vàthiện hữu tri thức.
· Chăm chú lắng nghe những lời dạy của những vị Tăng có đức độ, xem xét kỹ lưỡng rồi như pháp màtu hành.
· Có tâm cầu học Phật pháp, cần tham vấn những đạo lý màmình chưa hiểu.
· Phải thỉnh cầu minh sư chỉ dạy các pháp môn như tham thiền , niệm Phật...để ngày đêm tu trì không gián đoạn.
IV. Một số nghi thức xưng hô vàcách đối xử của cư sĩ Phật tử
* Cách đối xử vàxưng hô đối với chư Tăng
Khi gặp một hay nhiều vị Tăng tại chùa hay ngoài đường, nên chắp tay kính cẩn chào hỏi bằng cách niệm "Nam Mô A Di ĐàPhật" với vẻ mặt hoan hỷ làm cho người được chào cũng hoan hỷ như mình. Lối chào này biểu hiện tình cảm đậm đàvàđầy ý nghĩa. Cái chắp tay chính làtượng trưng cho hoa sen với công đức đầy đủ, thanh tịnh, câu niệm Phật chính làđể nhắc nhở mỗi con người đều có Phật tánh vàrồi sẽ thành Phật, bởi thế màhiện nay một số nước trên thế giới lấy hình ảnh chắp tay niệm Phật này để chào nhau. Đối với chư tăng, Phật tử không nên dùng những từ như sư huynh sư đệ, đạo hữu hay chữ gì để gọi, màphải xưng bằng tiếng Thầy mặc dầu làđồng sư.
Không nên lạm dụng những tiếng như Thượng Tọa, Đại Đức quá đáng. Không phải bất cứ ai cũng gọi làThượng Tọa, Đại Đức được, mặc dù trên danh nghĩa đã thụ đại giới thì có thể gọi Đại Đức nhưng Phật tử cũng nên tránh gọi những chữ ấy. Đại Đức hay Thượng Tọa làchỉ cho những người có đạo hạnh, có công đóng góp vào việc xây dựng Giáo hội, đầy đủ tuổi hạ thì mới gọi làĐại Đức hay Thượng Tọa. Ngày xưa người ta gọi đức Phật cũng dùng từ Đại Đức màthôi. Đối với Bổn sư của mình hay những vị Thầy quen thuộc thì nên gọi Thầy làđủ, vì như thế sẽ thấy thân mật vàđầy đủ ý nghĩa hơn. Những chữ Thượng Tọa hay Đại Đức thường được dùng trên giấy tờ hành chính cho trang nghiêm vàphải lễ, không nên sử dụng nhiều trong cách xưng hô hàng ngày. Hiện nay, việc dùng những từ này như làmột bệnh dịch, ai cũng muốn gọi Thầy mình làThượng Tọa, Đại Đức thậm chí còn dùng từ Ôn đối với những người trẻ tuổi, vànhư thế sẽ gây hiểu lầm cho một số ngoại đạo cho rằng tăng sĩ Phật giáo thích hư danh.
Phật tử khi vào chính điện phải nghiêm trang, đi đứng từ tốn thân tâm thanh tịnh,không mang dày dép vào. Khi vào điện thờ thì nên đi về hướng phải theo cách hữu nhiễu của nhàPhật, đi ba vòng hay bảy vòng tùy ý.
Khi tụng kinh phải chắp tay ngang ngực, ngón tay không so le, bàn tay khít, mắt nhìn thẳng, chân đứng hình chữ bát thẳng thớm. Tụng kinh phải đều đặn không quá to cũng không quá nhỏ.
Khi lễ Phật thì phải gieo 5 vóc xuống đất (đầu, hai cùi tay, hai đầu gối) không nên đứng giữa chính điện màlạy, lạy xong nên bước lui không nên quay lưng lại.
Khi tụng những kinh không thuộc nếu cầm kinh thì phải rửa tay cho sạch, phải kính cẩn như kính cẩn Phật, không được để kinh ở đâu cũng được. Khi chào người thì tuyệt đối không cầm kinh màchào. Nếu không có chỗ để kinh thì ôm kinh vào ngực rồi cúi đầu chào chứ không được cầm kinh màxá người.
Ngoài ra còn một số nghi thức khác nữa Phật tử phải tùy theo hoàn cảnh màxử trí cho đúng, ở đây chỉ nói đến những điều cơ bản vàthông dụng nhất trong đời sống thường ngày của người cư sĩ .
C. KẾT LUẬN
Tuy chúng tôi kể ra nhiều bổn phận vàphức tạp như thế nhưng thật ra chẳng có gì khó đối với bổn phận này cả. Những điều này một người không phải làPhật tử cũng có thể hiểu rồi. Tuy nhiên hiểu làmột điều màthực hành làmột điều khác. Giữ những điều này thì lợi ích sẽ không lường được. Phật tử tại gia cần nhẫn nại thực hành cho trọn đời để có phước đức vô lượng, đừng xem những điều này nhỏ nhặt màkhông làm. Nếu những điều này màkhông làm được thì chúng ta không làm được bất cư điều gì cả.