NHÂN QUẢ
A. MỞ ĐỀ
Tất cả các hiện tượng tâm lý, vật lý trong vũ trụ vạn hữu luôn luôn chuyển biến vận hành theo một định luật nhất định. Sự chuyển biến vận hành đó Phật giáo gọi làsự vô thường, còn quy luật của sự vận hành chuyển biến đó được gọi làđịnh luật nhân quả. Ví như mưa làkết quả, mây lànguyên nhân. Mây làkết quả, hơi nước lànguyên nhân... Định luật Nhân-quả làmột định luật hiển nhiên, có tự ngàn xưa không do một đấng sáng thế hay thần linh nào tạo ra nó. Có thể nói, định luật Nhân-quả làtiêu chuẩn luân lý đạo đức của con người, nó khiến con người phải tránh xa những cái ác vàlàm những điều thiện. Nhân quả làvị quan tòa sáng suốt vàbình đẳng nhất. Những người lưu manh xảo quyệt có thể lẫn tránh dư luận, qua mặt sự thưởng phạt của pháp luật, nhưng họ chẳng thể tránh khỏi luật nhân quả. Kẻ làm ác thì nhất định sẽ chịu quả ác, người hành thiện thì nhất định sẽ có kết quả thiện.
Nhân chính lànăng lực phát động, quả chính làsự hình thành của năng lực phát động đó. Nhân vàquả làhai trạng thái nối tiếp nhau, tương quan tương duyên với nhau, nương nhau màcó. Có nhân thì có quả, không nhân thì không quả vàngược lại. Tuy nhiên, nguyên tắc này có sự sai khác trong quan niệm Nhân-quả của Phật giáo. Theo Phật giáo, trong Nhân-quả có một yếu tố quan trọng, yếu tố ấy chính lànghiệp vànghiệp làđộng cơ vận hành dòng Nhân-quả. (Điều này sẽ được trình bày rõ hơn ở trong bài Nghiệp báo).
B. CHÁNH ĐỀ
I. Khái quát về Nhân-quả:
Nhân-quả làgì?
Nhân lànguyên nhân, quả làkết quả.
Trong sự hình thành của tất cả các pháp thì nhân lànăng sanh, quả làsở sanh; tức pháp nào có khả năng sanh ra kết quả thì được gọi lànhân, còn pháp nào từ nhân sanh ra được gọi làquả. Về mặt quan hệ nhân quả thì theo thời gian thì nhân có trước, quả có sau gọi làNhân-quả khác thời. Nhưng về mặt không gian thì Nhân-quả nương nhau màthành nên không có trước sau, chúng sanh diệt liên tục, vừa làm nhân vừa làm quả cho nhau chúng ta không biết đâu màlường được.
Theo Phật giáo thì tương quan Nhân-quả của các sự vật trong hiện tượng giới làtương quan theo vòng tròn xoắn ốc, mỗi hiện tượng vừa làkết quả vừa lànguyên nhân. Tương quan này chính làtương quan Duyên sinh. Bởi vậy, một kết quả thành tựu không phải do một nguyên nhân sanh màdo nhiều nguyên nhân kết hợp lại. Nguyên nhân chính gọi làNhân, nguyên nhân phụ gọi làDuyên. Do vậy nói Nhân-quả thì chưa đủ màphải nói làNhân duyên quả.
NHÂN + DUYÊN = QUẢ
Ngài La Thập nói: "Lực cường vi nhân, lực nhược vi duyên"( lực tác động mạnh lànhân, lực tác động yếu làduyên)
Luận Chỉ quán quyển 5 nói: "Chiêu quả vi nhân, duyên danh duyên do"( gây ra quả lànhân, cái mànhân nương vào màthành gọi làduyên).
Trong luật Nhân-quả có một yếu tố quan trọng đó làNghiệp. Nghiệp làtác nhân chính giữa khoảng cách từ nhân đến quả. Một nguyên nhân có đưa đến kết quả hay không làtùy theo vào nguyên nhân đó có tạo thành nghiệp hay không. Một hành vi động tác màkhông tạo nghiệp thì không thể đưa đến kết quả. Mặt khác, nghiệp chính làkết quả của sự tác ý, tức làkhi chúng ta nói năng hay hành động thì sanh thọ dụng, khởi lên cảm giác khổ vui, thương ghét...Chúng ta phần nhiều sống theo vọng thức, phân biệt, nên mọi hành động đều có tạo nghiệp, vì vậy phải tuân theo sự chi phối của Nhân-quả.
II. Các loại Nhân-quả vàđặc điểm của chúng
1). Nhân-quả đẳng lưu
Đẳng làcùng nhau, giống nhau, lưu làdòng. Nhân-quả đẳng lưu lànhân vàquả có những tính chất như nhau, nghĩa làquả có được từ những nhân đồng loại. Nhân lành thì quả lành, nhân dữ thì quả dữ...chúng ta muốn có cam thì phải gieo hạt cam, muốn có đậu thì phải gieo hạt đậu, không thể muốn có cam màlại gieo hạt đậu được. Người học đàn thì biết đàn, người học chữ thì biết chữ, không thể người học chữ màlại biết đàn...nói chung nhân vàquả đồng loại, nhân thay đổi thì quả cũng thay đổi. Trong văn học Việt Nam ta một số câu ca dao đã âm thầm nói lên Nhân-quả đẳng lưu như sau:
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa thì quét lá đa.
Hoặc:
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.
2). Nhân-quả dị thục :dị thục có ba loại.
Dị thời nhi thục
Nhân được tạo ra nhưng khi khác mới chín để tạo thành quả. Chẳng hạn: đất nước ta muốn độc lập thì phải trãi qua bao thế kỉ chinh chiến, chúng ta muốn có một cây cam có trái thì phải trãi qua một thời gian chăm bón kể từ ngày trồng nó, một đứa bé muốn thành một Giáo sư, một Tiến sĩ thì phải trãi qua 20 năm học tập...
Dị loại nhi thục:
Quả vànhân không giống nhau, khi quả chín sẽ có những biến đổi, không còn giữ nguyên tính chất của nhân nữa. Chúng ta gieo hạt mít để thành cây mít nhưng cây mít thì không phải trái mít, chúng ta nặn đất vànung nó thành cái bình thì cái bình đó không còn làđất nữa.
Biến dị nhi thục:
Quả được chín do sự biến đổi của nhân. Quả này do sự tác động quá mạnh của duyên nên khi chín nó có thể không còn dáng dấp gì của nhân nữa. Như trứng gàlànhân, nở ra con gàcon làquả, con gàcon này không còn mang dáng dấp gì của trứng nữa.
Nói chung cả ba loại dị thục này đều chịu sự tác động thuận hay nghịch của duyên làm chúng có thể đến sớm hay muộn, khác đi hoặc mất hết tác dụng ban đầu.
Như câu ca dao ở trên "con vua ....lá đa" đó làchưa kể đến sự tác động của duyên (nạn binh đao). Đến khi có sự chi phối của duyên (giặc dã) thì con vua cũng có thể phải đi quét chùa (bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa). Vì vậy chúng ta không lạ gì chuyện người làm việc ác nhỏ màbị đọa địa ngục, người làm chuyện ác tày trời màlại không bị đọa.
Đến đây chúng ta tìm hiểu về sự hiện hành của Nhân-quả qua ba thể loại để hiểu thêm về nghi vấn này.
Thời gian từ nhân đến quả của các loại Nhân-quả không giống nhau, quá trình này được chia làm ba loại như sau:
1-Hiện báo: tức làhành động phát ra liền nhận được kết quả, như phát một lời mắng nhiếc người ta liền bị người ta mắng lại, đánh người khác một cái liền bị người khác đánh lại...
2-Sanh báo: tức lànhân tạo ra đời này nhưng đời sau mới thọ quả.
3-Hậu báo: tức lànhân tạo ra đời này nhưng rất nhiều đời sau mới thọ báo. Qua đó nguyên nhân vì sao có nhiều người đời này làm ác vàvẫn được hạnh phúc an lạc đã được giải thích. Hạnh phúc an lạc làdo thiện nghiệp của họ trong đời quá khứ hiện hành trong đời này. Nhiều người hiện tại sống lương thiện màvẫn bị khổ đau, bế tắc làdo ác nghiệp trong đời quá khứ của họ hiện hành trong đời này. Vì thế chúng ta không lạ gì có người đời nay sống hiền màlại không gặp lành, kẻ ở ác màlại gặp thiện, đó chính làdo sự sai khác thời gian chín muồi của các loại nghiệp thức. Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thức sáng suốt rằng sống lương thiện thì nhất định có kết quả tốt, không sớm thì muộn. Hành động hiện tại của chúng ta được mọi người tán thán, tôn trọng, nên biết vào đời vị lai nhất định sẽ được quả báo an lạc.
III. Một số Nhân-quả có tương ứng nhất định:
Nhân quả làmột vấn đề vi tế khó bàn cải. Trong kinh Tăng Chi I, đức Phật dạy: Có bốn phạm trù không thể tư duy: Phật giới, thế giới của tâm, thiền định của người tu thiền vàquả dị thục của nghiệp". Tuy vậy, chúng ta cũng có thể nêu ra một số dẫn chứng về Nhân quả tương ứng qua kinh điển như sau:
- Người phạm tội ngũ nghịch (giết cha, mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp tăng, hại người phát tâm vô thượng vàlàm Phật chảy máu) thì phải đọa Vô gián địa ngục.
- Người tham lam ích kỷ, bỏn xẻn, hay cướp đoạt tài sản kẻ khác sau khi chết phải đọa vào cảnh giới ngạ quỷ.
- Người kiêu mạn phóng dật, hàhiếp người yếu, sân si hung tợn sau khi chết phải đọa làm những loài thú dữ như hổ báo, sài lang...
- Người có tánh hay trêu ghẹo đời sau sẽ sanh làm các loài như khỉ, vượn, tinh tinh...
- ...Giữ gìn nhân luân đạo lý, thọ trì năm giới cấm của Phật, biết bố thí cúng dường... đời sau được sanh làm người.
- ...Giữ gìn mười thiện nghiệp, tu hạnh bố thí... đời sau được làm trời..
Tuy nhiên, mọi trường hợp thác sanh đều chịu sự ảnh hưởng của cận tử nghiệp (nghiệp lúc sắp chết) thì mới có quyết định rõ ràng.
IV. Sự tác động của yếu tố nội tâm vào Nhân quả.
Như trên đã trình bày, có nhiều trường hợp do yếu tố nội tâm tác động quá mạnh làm cho quá trình từ nhân đến quả thay đổi. Hai người cùng làm một việc ác nhưng một người thì bị đọa, một người thì không, vì sao?
Người không bị đọa làdo yếu tố nội tâm (tuệ giác) can thiệp quá mạnh còn người kia thì không. Cùng một việc ác nhưng xảy đến với người không tu tập giới định tuệ thì quả báo sẽ nặng, còn nếu xảy đến với người tu tập giới định tuệ, có từ tâm vô lượng thì quả báo sẽ nhẹ đi hoặc không đáng kể. Vấn đề này đức Thế Tôn đã dạy trong Kinh Tăng Chi, phẩm Hạt muối rằng: như một nắm muối thả vào trong một tô nước thì tô nước sẽ mặn, còn nếu thả vào trong một hồ nước thì xem như không đáng kể. Thế gian cũng nói: "Bàchúa đức tay bằng ăn mày đổ ruột". Cái đứt tay của bàchúa thì sẽ đau đớn như người ăn mày đổ ruột, còn cái đứt tay của người ăn mày thì xem như không đáng gì.
Qua hình thức trình bày này, Nhân quả hiện lên không phải là một định luật khô khan, cứng cỏi. Nó đã thành một định luật sống động với đầy đủ tính chất biện chứng, dịch biến được xây dựng trên nền tảng của Duyên khởi, vô ngã. Dưới ánh sáng của Nhân quả, mọi thứ đều được soi sáng, phơi bày. Quan niệm Thần linh Thượng đế, vấn đề ban phước giáng họa sẽ không còn tồn tại trong quy tắc Nhân quả.
C. KẾT LUẬN
Nhân-quả lànền tảng của luân lý vàđạo đức Phật giáo. Giáo lý Nhân-quả giáo dục chúng ta sống tránh xa những việc ác vàlàm những việc lành, góp phần cải tạo xã hội, bài trừ tệ đoan, loại bỏ dị đoan mê tín...Nếu chúng ta áp dụng giáo nghĩa nhân quả vào cuộc sống hàng ngày thì lợi ích sẽ không lường được.
Mọi hành động đều có sự báo ứng, vì thế trước khi hành động chúng ta phải nghĩ ngay đến hậu quả để tránh xa ác nghiệp. Kinh pháp cú thí dụ dạy: "Muốn biết nguyên nhân ngày trước hãy xem kết quả hiện tại, muốn biết kết quả tương lai hãy nhìn hành hiện tại." Cổ nhân có dạy:
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì.
(Nghĩa là: việc lành hãy việc dữ đều có quả báo,
chỉ khác nhau làở chỗ đến sớm hay muộn màthôi.)
Phật giáo không dừng lại ở vấn đề "không làm điều ác, làm các điều thiện" màphải đạt tới "tự tịnh kỳ ý". Bởi vậy, làngười Phật tử thì phải sáng suốt nhìn nhận việc làm của mình, không những không làm điều ác, làm những việc lành màphải làm sao để cho điều ác không còn manh nha nữa, đó mới làsự thành tựu tối thắng của người con Phật.