phat
   

 

heading lionhead

Giữ gìn năm giới

Sống trong chánh niệm

Theo lời Phật dạy

banner
 
 

DUYÊN KHỞI

 

A. MỞ ĐỀ:
Mười hai nhân duyên làthuật ngữ, cũ dịch làThập nhị nhân duyên, mới dịch làThập nhị Duyên khởi, gọi tắt làNhân duyên quán, Chư Phật quán. Duyên khởi làgiáo lý màThế Tôn đã chứng ngộ cuối cùng (Lậu tận minh) sau 49 ngày đêm thiền định tại cội cây Bồ đề, vàtừ đó Thế Tôn được chư thiên vàloài người tôn xưng làbậc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Ngài dạy: "Ai thấy Duyên khởi làthấy pháp, ai thấy pháp làthấy ta (Phật)." Thấy Duyên khởi làthấy thực tại vô ngã tính của các pháp, màthực tại vô ngã tính tức làNhư Lai hay Phật tánh. Cho nên, thấy Duyên khởi cũng đồng nghĩa dứt trừ gốc rễ của lậu hoặc vàthể nhập Chân như. Vì thế, giáo lý Duyên khởi không những được xem làgiáo lý tối thượng màcòn làgiáo lý căn bản của tất cả kinh điển Phật giáo.
Mọi sự vật trên thế gian không phải tự nhiên màcó, chúng chỉ hiện hữu khi đủ duyên vàhiện hữu dưới hình thức các mối quan hệ, không thể không có các mối quan hệ màhình thành nên sự vật. Hiện tượng giới làmột chuỗi các mối quan hệ, cái này hỗ trợ cho cái khác, trùng trùng như thế cho đến vô tận, một làm duyên cho tất cả, tất cả làm duyên cho một. Duyên khởi làgiáo lý nói lên vô ngã tính của vạn vật vàcũng làchân lý đề cập đến thật tướng của các pháp.

B. NỘI DUNG:
I. Định nghĩa:
Giáo lý Duyên khởi làđịnh lý nói lên tính điều kiện giữa nhân vàquả, giữa nhân vàduyên của vạn pháp, hay làđịnh lý pháp giới Trùng Trùng Duyên khởi. Định lý của lý Duyên khởi được đức Phật dạy là:
Nguyên bản Pàli:
Paticca - Samupàda:
Imasmịm sati, idạm hoti;
Imass' uppàdà, idạm uppajjti.
Imassmịm asati, idạm na hoti;
Imassa nirodha, idạm nirujjhati;
Dịch:
Cái này có, cái kia có,
Cái này không, cái kia không .
Cái này sinh, cái kia sinh,
Cái này diệt, cái kia diệt.
Định lý Duyên khởi này được định nghĩa như vậy đối với vạn sự, vạn vật. Nhưng đối với hữu tình chúng sanh thì có nhiều nơi Phật dạy giáo lý thập nhị nhân duyên, tức 12 duyên bao gồm cả nhân quả Duyên khởi.

II. Mười hai chi phần nhân duyên:
Có nhiều thuyết nói đến 12 chi phần nhân duyên, tuy khác nhau trên hình thức trình bày nhưng giống nhau về mặt ý nghĩa. Ở đây chúng ta sẽ trình bày về trình tự Duyên khởi của chúng sanh trong ba đời vàluân hồi trong sáu cõi.
1. Vô minh: làphiền não của thời quá khứ, vô thỉ. Vô minh làkhông sáng suốt, không thể nhận chân được đâu làthật đâu làgiả. Nói theo Phật giáo thì vô minh làkhông thấy rõ tứ đế, tức làkhông biết được chân lý về sự khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ vàcon đường đi đến sự diệt khổ. Vô minh ví như màn mây che phủ mặt trời trí tuệ. Đức Phật dạy: "Vô minh làlớp ảo kiến mịt mù dày đặc trong ấy chúng sanh quay quần, quanh lộn". Vô minh làm duyên cho hành.

2. Hành: lànghiệp thiện ác gây ra dựa nương vào nghiệp của đời quá khứ. Hành làdanh từ bao hàm những hoạt động về thân thể cũng như tâm lý của chúng sanh. Hành lànguyên nhân tạo tác của thân khẩu ý. 51 tâm sở trong duy thức thì hết 49 tâm sở thuộc về hành.

3. Thức: một niệm nương vào nghiệp đời quá khứ màchịu thụ thai vào đời hiện tại. Thức bao gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức vàý thức.

4. Danh sắc: làlúc bào thai dần dần có hình tướng. Danh làthành phần tâm thức duyên với kiết sanh thức. Sắc làtứ đại vàcác pháp do tứ đại sanh.

5. Lục nhập: (sáu xứ) bao gồm sáu nội xứ (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân vàý căn) vàsáu ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp trần), giai đoạn này làđứa bé có đầy đủ các căn sắp xuất thai.

6. Xúc: làđứa bé khi khoảng hai, ba tuổi, chưa biết khổ vui thế nào màchỉ muốn xúc chạm. Xúc gồm nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc vàý xúc.

7. Thọ: làgiai đoạn đứa bé lớn lên, đã biết phân biệt khổ vui vàcảm thụ nó. Thọ gồm 6 thọ làthọ do nhãn xúc sinh, thọ do nhĩ xúc sinh....

8. Ái: vì thọ nên thích cái này, ghét cái kia, thích thì am muốn, mong cầu thuộc về mình vàghét thì mong cầu không thuộc về mình.

9. Thủ: vì ái mỗi ngày mỗi tăng nên chấp thủ sanh. Thủ có 4 thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ vàngã luận thủ.

10. Hữu: làtính quyết định tồn tại trong tương lai. Hữu bao gồm dục hữu, sắc hữu vàvô sắc hữu.

11. Sanh: làđịa vị nương vào cái nghiệp hiện tại màthọ sanh vào xứ khác trong tương lai.

12. Lão tử: làgiai đoạn cuối cùng của một kiếp người, đã sanh ra tức sẽ có ngày giàvàchết.

Trong mười hai chi phần nhân duyên này Vô minh vàHành làhai hoặc nghiệp thuộc đời quá khứ. Năm thứ thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ làthuộc về phần duyên của hoặc nghiệp quá khứ màthụ cái quả hiện tại. Ái làhoặc hiện tại, thủ lànghiệp hiện tại. Nhân ái, thủ này màcó sự thọ sanh ở đời vị lai. Đó làmột tầng nhân quả trong ba đời, căn cứ vào đó màbiết được sự luân hồi tái sanh.
Trong 12 chi phần này, mỗi cái vừa làm nhân vừa làm quả cho nhau tức làvừa làm điều kiện vừa bị chi phối bởi cái khác. Nếu ngược với duyên sanh tức duyên diệt thì ta sẽ thấy: Vô minh diệt thì Hành diệt, Hành diệt thì Thức diệt...vàcuối cùng làlão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt; như thế làtoàn bộ khổ uẩn diệt. Bởi thế, tất cả đều làtương đối, không có gì làtuyệt đối vàbiệt lập, màliên quan vàphụ thuộc lẫn nhau. Do vậy màPhật giáo không công nhận có một nguyên nhân đầu tiên. Duyên khởi làmột vòng tròn không có điểm đầu vàđiểm cuối, nó không phải làmột sợi xích màlàmột vòng lửa đang cháy đỏ trong tam giới, lục đạo.

III. Ý Nghĩa
Trước khi đức Thế Tôn xuất thế, các học thuyết của đất nước Ấn Độ thời bấy giờ đều chấp các pháp có ngã, con người có ngã tồn tại (tiểu ngã) vàbị chi phối bởi Thần linh (đại ngã). Các học thuyết đó đẩy con người vào những học thuyết tàkiến, chấp thủ đầy hoang mang vànghi ngờ. Họ tự xem những giáo lý truyền thống của họ như làmột chân lý, nên họ không thể giải quyết vấn đề khổ đau cho con người. Trước tình hình đó, đức Phật đã ra đời, công khai xiển dương giáo lý Duyên khởi, khẳng định vạn vật làduyên sinh, vô ngã. Qua sự phân tích 12 chi phần nhân duyên, chúng ta rút ra một số nhận xét như sau:
Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên sanh. Sự có mặt của một sự vật thật chất chỉ làsự có mặt của các nhân duyên sinh ra nó, sự hoại diệt của một pháp cũng chỉ làsự hoại diệt của các điều kiện sinh ra nó. Các pháp không có thật sanh hay thật diệt.
Duyên sinh lànền tảng để các pháp hình thành vàtồn tại lưu chuyển, khi các pháp hội đủ duyên thì sanh khởi màkhông phải tự sanh hay tự diệt. Các pháp vốn không có thật thể, chỉ dựa vào tính chất đặc trưng của riêng mỗi pháp màgọi tên nên chính cái tên ấy cũng duyên sanh, không có thật (giả danh).
Đức Phật vì nhận thấy con người hiện tại sống trong tham ái, chấp thủ, luân hồi tái sanh nên Ngài đã trình bày Duyên khởi dưới hình thức 12 chi phần theo một vòng tròn không đầu không cuối. Điều đó có nghĩa khi một trong 12 chi phần ấy còn tồn tại thì vòng quay sanh tử sẽ còn quay đến vô tận. Nếu một trong 12 chi phần nhân duyên không có mặt thì toàn bộ vòng quay Duyên khởi sẽ chấm dứt. Vòng quay Duyên khởi chấm dứt thì đồng nghĩa với sự chấm dứt sanh tử.
Giáo lý Duyên khởi không phải đưa đến một chủ nghĩa Hư vô luận màđưa đến một sự thật vô ngã tính của sự vật. Chúng ta không khỏi băn khoăn khi thấy tất cả đều giả danh không thật, nhưng đó lại làđiều kiện để thay đổi sự vật, ngay cả chính bản thân chúng ta cũng thế. Nếu sự vật vàcon người không phải do duyên sinh màcó một thật ngã thì tất cả từ khi sanh ra như thế nào thì sẽ tồn tại đúng nguyên vẹn như thế ấy, không bao giờ thay đổi. Con người duyên sanh mới có người ngu, người thông, hư không duyên sanh mới có ngày, có đêm, các hiện tượng trong xã hội do duyên sanh nên có thể chấn hưng, cải tạo...

IV. Áp dụng giáo lý Duyên khởi vào đời sống hiện tại
Thập nhị nhân duyên làmột bài giảng về tiến trình của hiện tượng sanh tử chớ không phải làmột lý thuyết triết học về sự tiến hóa của vũ trụ. Giáo lý này chỉ đề cập đến vấn đề nguồn gốc của sanh tử luân hồi, nguồn gốc của sự khổ đau vàchỉ nhắm mục đích giúp chúng sanh thoát ra khỏi vòng phiền não của đời sống chứ không phải làmột lý thuyết giải thích những vấn đề bí ẩn liên quan đến nguồn gốc cùng tột của vũ trụ. Chúng ta học giáo lý Duyên khởi không phải để tìm cầu một sự giải thích về nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ hay để bàn cải về một luận thuyết cố hữu nào đó. Học giáo lý Duyên khởi, chúng ta cần nhận thức đó làmột phương pháp đối trị tham, sân, si, chấp ngã...Khi chúng ta phát khởi tham dục hay sân hận... Thì nghĩ ngay đến duyên sanh, vô ngã trong tấm thân giả tạo vàmọi thứ giả danh ở chung quanh ta thì mức độ của chúng sẽ giảm đi phần nào. Sống giữa thế gian thì sự quan hệ làđiều không thể thiếu. Trong vấn đề quan hệ của sự sống thì chúng ta không thể tránh khỏi vô minh cố hữu của chính mình sẽ làm nảy sinh những thói hư, tật xấu như tham lam, sân hận, si mê... Giữa lúc đó, giáo lý Duyên khởi sẽ giúp chúng ta tỉnh ngộ vàdùng trí quán sát Duyên khởi màgiải quyết vấn đề. Với tinh thần Duyên khởi, con người có thể áp dụng vào bất cứ lãnh vực nào để sống chung hòa hợp vàtiến bộ. Thế giới sẽ không còn chiến tranh nếu tất cả đều hiểu vàáp dụng giáo lý Duyên khởi vào đời sống của chính mình.

C. KẾT LUẬN
Giáo lý Duyên khởi làgiáo lý căn bản của Phật giáo, một số kinh gọi giáo lý Duyên khởi làgiáo lý quy nạp Tứ đế màTứ đế làgiáo lý nền tảng của ba tạng Kinh điển. Cho nên giáo lý Duyên khởi làgiáo lý thuộc giáo lý nền tảng của Phật giáo. Tính Duyên khởi làtính phổ quát vàtuyệt đối, khẳng định vô ngã tính của toàn bộ các pháp. Trong kinh Lăng Nghiêm, Ngài A Nan đã một lần bàng hoàng, sửng sốt khi nghe Phật dạy Chân tâm làvô ngã. Giáo lý của Phật cũng duyên sinh nên được gọi làBất định pháp (pháp bất cô khởi).
Người Phật tử phải nhận chân được các pháp làduyên sinh, vô ngã để đối trị tham, sân, si vàsống đúng tinh thần từ bi, vị tha của Phật giáo, gạt bỏ mọi luận thuyết về thần quyền, khẳng định tính nhân bản, tự chủ, không phụ thuộc Thần linh, Thượng đế của con người.

 

Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo - Liễu Quán - 1425 Clayton Rd,. San Jose, CA 95127
408-272-5765 - thichphapchon@yahoo.com

whl